Sau khi cai sữa cho lợn con, thông thường lợn mẹ sẽ động dục trở lại vào ngày thứ 4-7 (chiếm 85-90%). Nếu 10 ngày sau khi cai sữa lợn con mà không thấy lợn nái động dục trở lại thì lợn nái đó gọi là chậm động dục trở lại. Bệnh thường gặp tại các cơ sở chăn nuôi có điều kiện nuôi dưỡng kém.

Nguyên nhân

– Do thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp, thành phần dinh dưỡng mất cân đối, thức ăn hôi mốc, có nhiều độc tố…

– Do lợn mắc các bệnh sinh sản như: Những bệnh nhiễm trùng đường máu hay đường sinh dục, bệnh tai xanh, bệnh thai gỗ… → tổn thương trên tử cung → ảnh hưởng đến sự phân tiết hormon, viêm buồng trứng → chậm động dục.

– Do chuồng trại chật hẹp, lợn mẹ không thường xuyên được đi lại vận động nên sinh ra béo mập và làm cho cơ quan sinh dục không phát triển. Chuồng nuôi quá nhiều lợn gặp thời tiết nắng nóng kéo dài cũng có thể làm rối loạn sinh sản.

– Do lai tạo đồng huyết, cận huyết → giống lợn bị thoái hóa, chậm sinh, vô sinh. Lợn nái có chửa sẽ khó đẻ, thai yếu và dễ sinh ra các quái thai…

– Do nội tiết bên trong cơ thể lợn: Nhiều trường hợp trên buồng trứng có u nang và những u nang này dẫn đến việc khả năng lợn không sinh sản là 4%.

– Do nhiều nguyên nhân khác dẫn đến → rối loạn hormon sinh sản → thể vàng không tiêu biến đi như bình thường → nồng độ hoocmon Progesteron tăng cao → ức chế tiết hoocmon LH và FSH → ức chế quá trình động dục → lợn mẹ chậm động dục trở lại.

Cách phòng

– Phòng ngừa bằng dinh dưỡng: Cho lợn ăn với khẩu phần thức ăn cân đối đạm, canxi và vitamin, nhất là vitamin E.

– Chăm sóc quản lý: Cai sữa cho lợn con lúc 3-5 tuần tuổi và cho lợn nái tiếp xúc với lợn đực giống từ ngày đầu cai sữa lợn con.

– Sử dụng kích dục tố tiêm cho lợn nái → thúc đẩy nhanh quá trình động dục lại.


Thúc đẩy nhanh quá trình động dục lại

Khắc phục

– Kiểm tra lại thức ăn cho lợn xem thức ăn có đảm bảo chất lượng hay không để có thể kịp thời loại bỏ thức ăn hôi mốc và cân đối lại các thành phần và giá trị dinh dưỡng như: chất bột, đường, đạm, khoáng cho hợp lý.

– Cần bổ sung thức ăn giàu dinh dưỡng cho lợn, nhất là đạm, khoáng, vitamin. Các chất này có nhiều trong thịt, cá, trứng, tôm, cua, khô dầu đậu, đỗ, dầu cá, bí đỏ, giá đỗ nảy mầm, rau xanh non ngon,…

– Bổ sung vào cám cho lợn ăn hàng ngày các loại thuốc bổ trợ như vitamin A, D, E, C, B.complex…

– Tiêm thuốc kích dục tố eCG và hCG cho lợn nái. Ngoài ra, có thể tiêm eCG và Estrogen để điều trị bệnh chậm động dục sau cai sữa của lợn nái.

BiotechVET tổng hợp


Biotech - VET - Hiện tượng chậm động dục lại ở lợn nái

Sau khi cai sữa cho lợn con, thông thường lợn mẹ sẽ động dục trở lại vào ngày thứ 4-7 (chiếm 85-90%). Nếu 10 ngày sau khi cai sữa lợn con mà không thấy lợn nái động dục trở lại thì lợn nái đó gọi là chậm động dục trở lại. Bệnh thường gặp tại các cơ sở chăn nuôi có điều kiện nuôi dưỡng kém.

Nguyên nhân

– Do thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp, thành phần dinh dưỡng mất cân đối, thức ăn hôi mốc, có nhiều độc tố…

– Do lợn mắc các bệnh sinh sản như: Những bệnh nhiễm trùng đường máu hay đường sinh dục, bệnh tai xanh, bệnh thai gỗ… → tổn thương trên tử cung → ảnh hưởng đến sự phân tiết hormon, viêm buồng trứng → chậm động dục.

– Do chuồng trại chật hẹp, lợn mẹ không thường xuyên được đi lại vận động nên sinh ra béo mập và làm cho cơ quan sinh dục không phát triển. Chuồng nuôi quá nhiều lợn gặp thời tiết nắng nóng kéo dài cũng có thể làm rối loạn sinh sản.

– Do lai tạo đồng huyết, cận huyết → giống lợn bị thoái hóa, chậm sinh, vô sinh. Lợn nái có chửa sẽ khó đẻ, thai yếu và dễ sinh ra các quái thai…

– Do nội tiết bên trong cơ thể lợn: Nhiều trường hợp trên buồng trứng có u nang và những u nang này dẫn đến việc khả năng lợn không sinh sản là 4%.

– Do nhiều nguyên nhân khác dẫn đến → rối loạn hormon sinh sản → thể vàng không tiêu biến đi như bình thường → nồng độ hoocmon Progesteron tăng cao → ức chế tiết hoocmon LH và FSH → ức chế quá trình động dục → lợn mẹ chậm động dục trở lại.

Cách phòng

– Phòng ngừa bằng dinh dưỡng: Cho lợn ăn với khẩu phần thức ăn cân đối đạm, canxi và vitamin, nhất là vitamin E.

– Chăm sóc quản lý: Cai sữa cho lợn con lúc 3-5 tuần tuổi và cho lợn nái tiếp xúc với lợn đực giống từ ngày đầu cai sữa lợn con.

– Sử dụng kích dục tố tiêm cho lợn nái → thúc đẩy nhanh quá trình động dục lại.


Thúc đẩy nhanh quá trình động dục lại

Khắc phục

– Kiểm tra lại thức ăn cho lợn xem thức ăn có đảm bảo chất lượng hay không để có thể kịp thời loại bỏ thức ăn hôi mốc và cân đối lại các thành phần và giá trị dinh dưỡng như: chất bột, đường, đạm, khoáng cho hợp lý.

– Cần bổ sung thức ăn giàu dinh dưỡng cho lợn, nhất là đạm, khoáng, vitamin. Các chất này có nhiều trong thịt, cá, trứng, tôm, cua, khô dầu đậu, đỗ, dầu cá, bí đỏ, giá đỗ nảy mầm, rau xanh non ngon,…

– Bổ sung vào cám cho lợn ăn hàng ngày các loại thuốc bổ trợ như vitamin A, D, E, C, B.complex…

– Tiêm thuốc kích dục tố eCG và hCG cho lợn nái. Ngoài ra, có thể tiêm eCG và Estrogen để điều trị bệnh chậm động dục sau cai sữa của lợn nái.

BiotechVET tổng hợp


Đọc thêm
Bệnh sót nhau xảy ra sau khi lợn nái đẻ con. Thông thường, khi lợn con sổ ra ngoài thì sau 10-60 phút nhau thai sẽ ra ngoài. Nếu quá thời gian trên mà nhau thai không được đẩy ra hoặc đẩy ra không hết thì bị coi là sót nhau.

* Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới hiện tượng sót nhau ở lợn nái

– Do lợn đã đẻ nhiều lứa, hoặc đẻ quá nhiều con trong 1 lứa khiến tử cung co bóp kém, khó đẩy con và nhau ra ngoài. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác khiến tử cung của lợn mẹ co bóp yếu là do: Chế độ dinh dưỡng kém, khẩu phần ăn thiếu chất khoáng, canxi; lợn nái ít vận động, nhất là vào cuối thai kỳ; lợn mẹ quá béo hoặc quá gầy.

– Lợn bị viêm niêm mạc tử cung, dịch viêm làm nhau dính vào tử cung nên khi đẻ bị sót nhau lại trong tử cung)

– Do chủ nuôi hoặc người đỡ đẻ thao tác không đúng kỹ thuật, nhau chưa ra hết đã kéo đứt, khiến nhau bị sót lại.

* Biểu hiện

Khi bị sót nhau, lợn mẹ hay rặn, có biểu hiện sốt, có con bỏ ăn, uống nước nhiều, cắn con, không cho con bú. 

Cơ quan sinh dục của lợn mẹ chảy dịch sẫm màu, có lẫn máu hoặc những mảnh nhau thối. 


Bệnh sót nhau

* Cách phát hiện:

– Sót nhau hoàn toàn: quan sát kỹ sẽ thấy 1 màng mỏng còn nằm trong âm đạo hay treo lòng thòng ở mép âm môn.

Sót nhau không hoàn toàn: nhìn thấy 1 ít nhung mao trên mặt màng nhung của lợn mẹ.

– Sót nhau từng phần: Trải toàn bộ phần nhau thai đã ra ngoài → quan sát: thấy được những chỗ màng thai bị đứt → suy ra phần màng thai còn lại nằm trong tử cung.

* Cách khắc phục

– Chăn nuôi lợn nái theo đúng kỹ thuật. Đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng của lợn, bổ sung khoáng chất và canxi vào khẩu phần ăn. Chuồng trại đảm bảo cho lợn có không gian vận động tốt.

– Kịp thời phát hiện sót nhau để có biên pháp khắc phục, để lâu nhau sẽ thối, khiến lợn sốt cao, mất sữa, lợn con sẽ chết.

– Tiêm thuốc Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung đẩy nhau ra hết.

– Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ 0,1% hoặc nước muối 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục.

BiotechVET tổng hợp


Biotech - VET - Bệnh sót nhau ở lợn nái

Bệnh sót nhau xảy ra sau khi lợn nái đẻ con. Thông thường, khi lợn con sổ ra ngoài thì sau 10-60 phút nhau thai sẽ ra ngoài. Nếu quá thời gian trên mà nhau thai không được đẩy ra hoặc đẩy ra không hết thì bị coi là sót nhau.

* Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới hiện tượng sót nhau ở lợn nái

– Do lợn đã đẻ nhiều lứa, hoặc đẻ quá nhiều con trong 1 lứa khiến tử cung co bóp kém, khó đẩy con và nhau ra ngoài. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác khiến tử cung của lợn mẹ co bóp yếu là do: Chế độ dinh dưỡng kém, khẩu phần ăn thiếu chất khoáng, canxi; lợn nái ít vận động, nhất là vào cuối thai kỳ; lợn mẹ quá béo hoặc quá gầy.

– Lợn bị viêm niêm mạc tử cung, dịch viêm làm nhau dính vào tử cung nên khi đẻ bị sót nhau lại trong tử cung)

– Do chủ nuôi hoặc người đỡ đẻ thao tác không đúng kỹ thuật, nhau chưa ra hết đã kéo đứt, khiến nhau bị sót lại.

* Biểu hiện

Khi bị sót nhau, lợn mẹ hay rặn, có biểu hiện sốt, có con bỏ ăn, uống nước nhiều, cắn con, không cho con bú. 

Cơ quan sinh dục của lợn mẹ chảy dịch sẫm màu, có lẫn máu hoặc những mảnh nhau thối. 


Bệnh sót nhau

* Cách phát hiện:

– Sót nhau hoàn toàn: quan sát kỹ sẽ thấy 1 màng mỏng còn nằm trong âm đạo hay treo lòng thòng ở mép âm môn.

Sót nhau không hoàn toàn: nhìn thấy 1 ít nhung mao trên mặt màng nhung của lợn mẹ.

– Sót nhau từng phần: Trải toàn bộ phần nhau thai đã ra ngoài → quan sát: thấy được những chỗ màng thai bị đứt → suy ra phần màng thai còn lại nằm trong tử cung.

* Cách khắc phục

– Chăn nuôi lợn nái theo đúng kỹ thuật. Đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng của lợn, bổ sung khoáng chất và canxi vào khẩu phần ăn. Chuồng trại đảm bảo cho lợn có không gian vận động tốt.

– Kịp thời phát hiện sót nhau để có biên pháp khắc phục, để lâu nhau sẽ thối, khiến lợn sốt cao, mất sữa, lợn con sẽ chết.

– Tiêm thuốc Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung đẩy nhau ra hết.

– Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ 0,1% hoặc nước muối 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục.

BiotechVET tổng hợp


Đọc thêm
1. Nguyên nhân

Bại liệt ở lợn nài là do quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng không đúng quy trình kỹ thuật. Trong khẩu phần thức ăn thiếu canxi, phốtpho. Chuồng trại thiếu ánh sáng nên cơ thể lợn thiếu vitamin D, khả năng hấp thụ canxi kém, xương xốp mềm.

2. Triệu chứng

Lợn nái nằm nhiều, sốt cao, co giật, đi lại khó khăn, lưng cong, sau đó đi lại bằng 2 chân trước. Phần thân sau không có phản ứng khi bị châm kim. Phần bị liệt có thể teo cơ, thân nhiệt thấp, nếu không điều trị kịp thời, sẽ bị thối loét ở vùng bị liệt.


Bệnh bại liệt ở lợn nái

3. Phòng bệnh

Tốt nhất là phòng bệnh cho lợn nái từ giai đoạn hậu bị và mang thai kỳ I, kỳ II. Lợn nái nuôi cần cho ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, bổ sung các nguyên tố vi lượng. Thường xuyên cho lợn vận động, chuồng trại phải có ánh nắng buổi sáng để lợn tắm nắng. Giữ nền chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ. Không dùng lợn đực giống quá lớn để phối giống cho lợn nái có tầm vóc nhỏ.

4. Điều trị

Kết hợp giữa dùng thuốc với chế độ ăn uống, vận động, xoa bóp. Dùng thuốc BTV - Povimix trộn vào thức ăn kết hợp BTV - Cal-Ade. Dùng cám gạo với một ít muối rang nóng để xoa bóp vùng bị liệt, xoa bóp 3-4 lần/ngày.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Bệnh bại liệt ở lợn nái

1. Nguyên nhân

Bại liệt ở lợn nài là do quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng không đúng quy trình kỹ thuật. Trong khẩu phần thức ăn thiếu canxi, phốtpho. Chuồng trại thiếu ánh sáng nên cơ thể lợn thiếu vitamin D, khả năng hấp thụ canxi kém, xương xốp mềm.

2. Triệu chứng

Lợn nái nằm nhiều, sốt cao, co giật, đi lại khó khăn, lưng cong, sau đó đi lại bằng 2 chân trước. Phần thân sau không có phản ứng khi bị châm kim. Phần bị liệt có thể teo cơ, thân nhiệt thấp, nếu không điều trị kịp thời, sẽ bị thối loét ở vùng bị liệt.


Bệnh bại liệt ở lợn nái

3. Phòng bệnh

Tốt nhất là phòng bệnh cho lợn nái từ giai đoạn hậu bị và mang thai kỳ I, kỳ II. Lợn nái nuôi cần cho ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, bổ sung các nguyên tố vi lượng. Thường xuyên cho lợn vận động, chuồng trại phải có ánh nắng buổi sáng để lợn tắm nắng. Giữ nền chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ. Không dùng lợn đực giống quá lớn để phối giống cho lợn nái có tầm vóc nhỏ.

4. Điều trị

Kết hợp giữa dùng thuốc với chế độ ăn uống, vận động, xoa bóp. Dùng thuốc BTV - Povimix trộn vào thức ăn kết hợp BTV - Cal-Ade. Dùng cám gạo với một ít muối rang nóng để xoa bóp vùng bị liệt, xoa bóp 3-4 lần/ngày.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Sốt sữa là hiện tượng viêm tiết dịch cấp tính tuyến sữa. Bệnh xảy ra trong những ngày đầu sau khi lợn đẻ do lợn con sơ sinh giảm số lượng đột ngột (chết) hoặc sức sống yếu bú ít dẫn đến tắc sữa ở lợn mẹ.

1, Triệu chứng của bệnh

Vùng da tuyến sữa viêm đỏ, nóng. Bầu vú sưng, có chứa một ít sữa đầu. Trong một vài trường hợp vú không có sữa. 

Thể trạng lợn nái yếu, kêu đau khi thở, nằm nghiêng hoặc nằm sấp không cho con bú, do đau nên cắn những lợn con đòi bú. Thân nhiệt tăng cao (41 – 41,5°C). 


Bệnh sốt sữa trên lợn

2, Điều trị

Đây là bệnh điều trị được, nhưng phải mất vài ngày. Cho nên trước hết tìm mọi cách cho lợn con ăn như ghép đàn, cho ăn nước cháo hoặc cháo loãng, uống sữa… Đối với lợn mẹ, cần tiến hành đồng thời hai bước sau:

Bước 1. Áp dụng biện pháp vật lý trị liệu

– Lấy đá cục (hoặc nước lạnh) chườm lạnh toàn bộ bầu vú, hoặc dùng đất sét trộn với nước lạnh và dấm đắp lên toàn bộ bầu vú, 2 – 3 lần/ngày. Lưu ý, sau mỗi lần đắp cần vệ sinh sạch sẽ để đàn con bú đảm bảo vệ sinh.

– Mat xa bầu vú, 2 – 3 lần/ngày (cùng lúc với chườm lạnh), cố gắng vừa mat xa vừa bóp sữa ra.

Bước 2. Đồng thời dùng các thuốc sau để điều trị

– Tốt nhất tiêm ven CaCl2 hoặc Calci – Mg – B6 với liều 20ml/nái/lần. Các loại thuốc này có thể kết hợp tiêm với 20ml dung dịch Novocain 0,25 – 0,5%.Trường hợp không thể tiêm ven được thì tiêm bắp Calci – Mg – B6 voi Ptiar – nalgin c hoặc Pharti – P.A.I.

– Tiêm bắp BTV – Dexajec để giảm phù.

– Tiêm dưới da Oxytoxin để kích sữa.

– Trộn thức ăn BTV – Kích sữa để tăng tiết sữa cho heo nái

Bước 2 này còn cho kết quả rất tốt trong điều trị bệnh liệt sau đẻ của lợn nái.

3, Phòng bệnh

– Đảm bảo chế độ nuôi dưỡng nái tốt, cho ăn đúng khẩu phần, đủ dinh dưỡng và đủ rau xanh. Trường hợp cho ăn cám tự chế cần bổ sung thêm cám đậm đặc.

– Chuồng trại đủ ánh sáng, khô, ấm.

– Trong vòng một tháng trước khi đẻ cho ăn liên tục BTV - Men Saccharo với liều 20g/100kgP/ngày để tăng sức sống của bào thai cũng như tăng chất lượng sữa của lợn mẹ.

– Trước khi đẻ 4 ngày giảm dần khối lượng cám của nái chứa, cho ăn thức ăn dễ tiêu hoá.

– Trước khi đẻ 8 giờ tiêm cho nái chửa một mũi kháng sinh BTV - Oxy VET 200 với liều 1ml/10kgP để phòng hội chứng sốt sữa (MMA).

– Vừa đỡ đẻ vừa cho lợn con bú sẽ kích lợn nái đẻ và kích thích tiết sữa tốt.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh sốt sữa trên lợn nái

Sốt sữa là hiện tượng viêm tiết dịch cấp tính tuyến sữa. Bệnh xảy ra trong những ngày đầu sau khi lợn đẻ do lợn con sơ sinh giảm số lượng đột ngột (chết) hoặc sức sống yếu bú ít dẫn đến tắc sữa ở lợn mẹ.

1, Triệu chứng của bệnh

Vùng da tuyến sữa viêm đỏ, nóng. Bầu vú sưng, có chứa một ít sữa đầu. Trong một vài trường hợp vú không có sữa. 

Thể trạng lợn nái yếu, kêu đau khi thở, nằm nghiêng hoặc nằm sấp không cho con bú, do đau nên cắn những lợn con đòi bú. Thân nhiệt tăng cao (41 – 41,5°C). 


Bệnh sốt sữa trên lợn

2, Điều trị

Đây là bệnh điều trị được, nhưng phải mất vài ngày. Cho nên trước hết tìm mọi cách cho lợn con ăn như ghép đàn, cho ăn nước cháo hoặc cháo loãng, uống sữa… Đối với lợn mẹ, cần tiến hành đồng thời hai bước sau:

Bước 1. Áp dụng biện pháp vật lý trị liệu

– Lấy đá cục (hoặc nước lạnh) chườm lạnh toàn bộ bầu vú, hoặc dùng đất sét trộn với nước lạnh và dấm đắp lên toàn bộ bầu vú, 2 – 3 lần/ngày. Lưu ý, sau mỗi lần đắp cần vệ sinh sạch sẽ để đàn con bú đảm bảo vệ sinh.

– Mat xa bầu vú, 2 – 3 lần/ngày (cùng lúc với chườm lạnh), cố gắng vừa mat xa vừa bóp sữa ra.

Bước 2. Đồng thời dùng các thuốc sau để điều trị

– Tốt nhất tiêm ven CaCl2 hoặc Calci – Mg – B6 với liều 20ml/nái/lần. Các loại thuốc này có thể kết hợp tiêm với 20ml dung dịch Novocain 0,25 – 0,5%.Trường hợp không thể tiêm ven được thì tiêm bắp Calci – Mg – B6 voi Ptiar – nalgin c hoặc Pharti – P.A.I.

– Tiêm bắp BTV – Dexajec để giảm phù.

– Tiêm dưới da Oxytoxin để kích sữa.

– Trộn thức ăn BTV – Kích sữa để tăng tiết sữa cho heo nái

Bước 2 này còn cho kết quả rất tốt trong điều trị bệnh liệt sau đẻ của lợn nái.

3, Phòng bệnh

– Đảm bảo chế độ nuôi dưỡng nái tốt, cho ăn đúng khẩu phần, đủ dinh dưỡng và đủ rau xanh. Trường hợp cho ăn cám tự chế cần bổ sung thêm cám đậm đặc.

– Chuồng trại đủ ánh sáng, khô, ấm.

– Trong vòng một tháng trước khi đẻ cho ăn liên tục BTV - Men Saccharo với liều 20g/100kgP/ngày để tăng sức sống của bào thai cũng như tăng chất lượng sữa của lợn mẹ.

– Trước khi đẻ 4 ngày giảm dần khối lượng cám của nái chứa, cho ăn thức ăn dễ tiêu hoá.

– Trước khi đẻ 8 giờ tiêm cho nái chửa một mũi kháng sinh BTV - Oxy VET 200 với liều 1ml/10kgP để phòng hội chứng sốt sữa (MMA).

– Vừa đỡ đẻ vừa cho lợn con bú sẽ kích lợn nái đẻ và kích thích tiết sữa tốt.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
1. Xác định nguyên nhân gây bệnh

- Bệnh mất sửa ở lợn có thể là do các bệnh của tuyến vú như: viêm vú, tắc ống tiết và thải sữa.

- Do khẩu phần ăn thiếu dinh dưỡng trong một thời gian dài.

- Do kế phát từ những bệnh như: viêm mủ tử cung, sót nhau, sảy thai truyền nhiễm, dịch tả, tụ huyết trùng.

- Do rối loạn nội tiết tố tiết sữa.

2. Xác định một số triệu chứng bệnh 

Triệu chứng đầu tiên và rõ dệt nhất đó là lợn mẹ giảm lượng sữa hoặc mất hoàn toàn. Con vật nằm úp bụng xuống nền chuồng và không cho con bú, lợn con lông xù, da thô gầy yếu, nằm mỗi nơi một con đi lại chậm chạp và chết dần.


lợn kém sữa

3. Biện pháp phòng bệnh

- Chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý lợn nái sinh sản đúng quy trình kỹ thuật.

- Điều trị các bệnh tuyến vú, và các kế phát dẫn đến kém sữa.

4. Điều trị bệnh

- Tiêm Oxytoxin liều 3 - 5ml/con vào bắp thịt một lần trong ngày.

- Tiêm kháng sinh BTV - Amocin 150 LA liều 1ml/10kg thể trọng

- Trộn thức ăn BTV – Kích sữa để giúp nái tăng tiết sữa

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh mất sữa ở lợn nái

1. Xác định nguyên nhân gây bệnh

- Bệnh mất sửa ở lợn có thể là do các bệnh của tuyến vú như: viêm vú, tắc ống tiết và thải sữa.

- Do khẩu phần ăn thiếu dinh dưỡng trong một thời gian dài.

- Do kế phát từ những bệnh như: viêm mủ tử cung, sót nhau, sảy thai truyền nhiễm, dịch tả, tụ huyết trùng.

- Do rối loạn nội tiết tố tiết sữa.

2. Xác định một số triệu chứng bệnh 

Triệu chứng đầu tiên và rõ dệt nhất đó là lợn mẹ giảm lượng sữa hoặc mất hoàn toàn. Con vật nằm úp bụng xuống nền chuồng và không cho con bú, lợn con lông xù, da thô gầy yếu, nằm mỗi nơi một con đi lại chậm chạp và chết dần.


lợn kém sữa

3. Biện pháp phòng bệnh

- Chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý lợn nái sinh sản đúng quy trình kỹ thuật.

- Điều trị các bệnh tuyến vú, và các kế phát dẫn đến kém sữa.

4. Điều trị bệnh

- Tiêm Oxytoxin liều 3 - 5ml/con vào bắp thịt một lần trong ngày.

- Tiêm kháng sinh BTV - Amocin 150 LA liều 1ml/10kg thể trọng

- Trộn thức ăn BTV – Kích sữa để giúp nái tăng tiết sữa

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh viêm vú trên lợn thường gặp trong giai đoạn nuôi con, vú bị viêm dẫn đến lợn sốt, kém ăn hoặc bỏ ăn, từ đó lượng sữa giảm, hoặc mất hẳn sữa. Lợn con không được bú sữa đầu, hoặc bú mẹ viêm sẽ bị tiêu chảy, không thể chữa khỏi hoàn toàn.

1. Xác định nguyên nhân gây bệnh

- Do tác động cơ học làm tổn thương bầu vú vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào vết thương gây viêm.

-Thường gặp trong trường hợp lợn con khi đỡ đẻ không được cắt răng nanh hoặc bầu vú của lợn mẹ quét xuống nền chuồng.

- Kế phát từ bệnh sản khoa: viêm tử cung


Bệnh viêm vú ở lợn

2. Xác định triệu chứng bệnh

-Lợn mẹ sốt cao, ăn uống kém, bầu vú sưng, nóng, đỏ, lượng sữa giảm hoặc mất.

-Lợn mẹ không cho con bú, lợn con mỏi mệt, lông xù, da thô, nằm mỗi nơi một con, nếu điều trị không kịp thời lợn con sẽ còi cọc, hoặc chết do thiếu sữa.

3. Phòng bệnh

- Chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý lợn nái sinh sản đúng quy trình kỹ thuật.

- Đỡ đẻ và cắt răng nanh cho lợn con.

- Tránh các tác động cơ học vào bầu vú lợn mẹ bằng cách tách con hoặc hạn chế cho lợn con bú và thường xuyên kiểm tra, phát hiện bệnh điều trị kịp thời.

4. Điều trị bệnh

- Chườm nóng vú viêm.

- Tiêm BTV - Amocin 150 LA tiêm bắp viêm liên tục 3-5 ngày.

- Tiêm BTV – Nagin liều 1ml/10kg thể trọng 

- Trộn thêm kháng sinh Amocin 50 kết hợp BTV - Kháng thể E.COLI THT vào cám hoặc pha nước uống.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh viêm vú ở lợn

Bệnh viêm vú trên lợn thường gặp trong giai đoạn nuôi con, vú bị viêm dẫn đến lợn sốt, kém ăn hoặc bỏ ăn, từ đó lượng sữa giảm, hoặc mất hẳn sữa. Lợn con không được bú sữa đầu, hoặc bú mẹ viêm sẽ bị tiêu chảy, không thể chữa khỏi hoàn toàn.

1. Xác định nguyên nhân gây bệnh

- Do tác động cơ học làm tổn thương bầu vú vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào vết thương gây viêm.

-Thường gặp trong trường hợp lợn con khi đỡ đẻ không được cắt răng nanh hoặc bầu vú của lợn mẹ quét xuống nền chuồng.

- Kế phát từ bệnh sản khoa: viêm tử cung


Bệnh viêm vú ở lợn

2. Xác định triệu chứng bệnh

-Lợn mẹ sốt cao, ăn uống kém, bầu vú sưng, nóng, đỏ, lượng sữa giảm hoặc mất.

-Lợn mẹ không cho con bú, lợn con mỏi mệt, lông xù, da thô, nằm mỗi nơi một con, nếu điều trị không kịp thời lợn con sẽ còi cọc, hoặc chết do thiếu sữa.

3. Phòng bệnh

- Chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý lợn nái sinh sản đúng quy trình kỹ thuật.

- Đỡ đẻ và cắt răng nanh cho lợn con.

- Tránh các tác động cơ học vào bầu vú lợn mẹ bằng cách tách con hoặc hạn chế cho lợn con bú và thường xuyên kiểm tra, phát hiện bệnh điều trị kịp thời.

4. Điều trị bệnh

- Chườm nóng vú viêm.

- Tiêm BTV - Amocin 150 LA tiêm bắp viêm liên tục 3-5 ngày.

- Tiêm BTV – Nagin liều 1ml/10kg thể trọng 

- Trộn thêm kháng sinh Amocin 50 kết hợp BTV - Kháng thể E.COLI THT vào cám hoặc pha nước uống.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Viêm tử cung là một loại bệnh khá phổ biến ở lợn nái, thể hiện rõ nhất là viêm tử cung và âm đạo, ảnh hưởng xấu đến khả năng thụ thai và sinh sản của lợn.

1. Xác định nguyên nhân gây bệnh

- Bệnh xảy có có thể là do phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vệ sinh hoặc thô bạo làm tổn thương niêm mạc tử cung gây viêm.

- Do sự can thiệp lợn đẻ khó gây tổn thương đường sinh dục.

- Do kế phát từ bệnh : sẩy thai truyền nhiễm, parvo vi rút hoặc do sót nhau.

2. Xác định triệu chứng bệnh

- Lợn mẹ có biểu hiện sốt, mệt mỏi, đường sinh dục có dịch viêm màu trắng đục chảy ra ngoài gây mùi hôi thối khó chịu, chu kỳ động dục rối loạn.

- Kém sữa, đôi khi không cho con bú.


Viêm mủ tử cung ở lợn

3. Biện pháp phòng bệnh

- Chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý lợn nái sinh sản theo đúng quy trình.

- Phối giống cho lợn phải thực hiện đẩm bảo vệ sinh, sát trùng dụng cụ và phía sau cơ thể con vật.

- Thụt rửa tử cung bằng dung dịch thuốc tím 0,1% liều 2-4 lít/con/lần/ngày, liên tục 03 ngày sau khi sinh.

- Tiêm kháng sinh trước và sau khi sinh từ 1-3 ngày: BTV - Amocin 150 LA hoặc BTV - Oxyvet 200

4. Điều trị bệnh

-Thụt tử cung bằng dung dịch thuốc tím 0,1% liều 2-4 lít/con, ngày 1 lần,
thụt rửa liên tục trong 3-5 ngày.

- Đặt hoặc bơm kháng sinh vào tử cung sau khi thụt rửa: peniciilin,
ampicillin, tetracyclin

-Tiêm các thuốc BTV - Amocin 150 LA 1ml/10kg trọng lượng cơ thể vào bắp thịt cho lợn 1 lần trong ngày, tiêm liên tục trong 3-5 ngày

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh viêm tử cung trên lợn

Viêm tử cung là một loại bệnh khá phổ biến ở lợn nái, thể hiện rõ nhất là viêm tử cung và âm đạo, ảnh hưởng xấu đến khả năng thụ thai và sinh sản của lợn.

1. Xác định nguyên nhân gây bệnh

- Bệnh xảy có có thể là do phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vệ sinh hoặc thô bạo làm tổn thương niêm mạc tử cung gây viêm.

- Do sự can thiệp lợn đẻ khó gây tổn thương đường sinh dục.

- Do kế phát từ bệnh : sẩy thai truyền nhiễm, parvo vi rút hoặc do sót nhau.

2. Xác định triệu chứng bệnh

- Lợn mẹ có biểu hiện sốt, mệt mỏi, đường sinh dục có dịch viêm màu trắng đục chảy ra ngoài gây mùi hôi thối khó chịu, chu kỳ động dục rối loạn.

- Kém sữa, đôi khi không cho con bú.


Viêm mủ tử cung ở lợn

3. Biện pháp phòng bệnh

- Chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý lợn nái sinh sản theo đúng quy trình.

- Phối giống cho lợn phải thực hiện đẩm bảo vệ sinh, sát trùng dụng cụ và phía sau cơ thể con vật.

- Thụt rửa tử cung bằng dung dịch thuốc tím 0,1% liều 2-4 lít/con/lần/ngày, liên tục 03 ngày sau khi sinh.

- Tiêm kháng sinh trước và sau khi sinh từ 1-3 ngày: BTV - Amocin 150 LA hoặc BTV - Oxyvet 200

4. Điều trị bệnh

-Thụt tử cung bằng dung dịch thuốc tím 0,1% liều 2-4 lít/con, ngày 1 lần,
thụt rửa liên tục trong 3-5 ngày.

- Đặt hoặc bơm kháng sinh vào tử cung sau khi thụt rửa: peniciilin,
ampicillin, tetracyclin

-Tiêm các thuốc BTV - Amocin 150 LA 1ml/10kg trọng lượng cơ thể vào bắp thịt cho lợn 1 lần trong ngày, tiêm liên tục trong 3-5 ngày

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Là một trong những bệnh khá phổ biến ở heo, bệnh viêm dạ dày, ruột thường gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng nếu bà con không biết cách phòng ngừa và trị bệnh sao cho hợp lý. Do đó, nếu muốn bảo vệ đàn heo một cách tối ưu nhất, bà con cần đặc biệt chú ý đến một số điều ngay dưới đây.

1. Nguyên nhân gây bệnh viêm dạ dày, ruột ở heo

Được biết đến với tên gọi TGE, viêm dạ dày, ruột ở heo thường xuất hiện do Coronavirus gây ra. Bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ độ tuổi nào nhưng phát triển mạnh nhất ở heo con và gây tử vong trong thời gian ngắn do heo có sức đề kháng yếu.

Thông thường, virus gây bệnh viêm dạ dày, ruột thường xâm nhập cơ thể thông qua đường miệng hoặc đường mũi. Sau đó, chúng sẽ nhanh chóng phát triển trong ruột, dẫn đến rối loại tiêu hóa, heo bị tiêu chảy và chết sau 1-3 ngày.

2. Triệu trứng của bệnh viêm dạ dày, ruột

Các biểu hiện của bệnh viêm dạ dày, ruột tiêu biểu mà chúng ta có thể kể đến như lợn bị tiêu chảy với mùi hôi thối, nôn mửa nhiều, thiếu nước, yếu ớt và sau đó là chết. Với lợn con, hầu như tỉ lệ chết là 100%. Với lợn trưởng thành, tỉ lệ chết thấp hơn nhưng còn phụ thuộc vào điều kiện sống. Bên cạnh đó, tùy theo độ tuổi của heo cũng thường xuất hiện các triệu trứng khác nhau.

Ví dụ với heo nái, chúng sẽ có thêm các biểu hiện như bỏ ăn, tỉ lệ sữa giảm. Với heo con, chúng thường bỏ bú, sút cân. Với heo thịt, biểu hiện thường không rõ rệt. Tuy nhiên, ngoài tiêu chảy, một số biểu hiện khác có thể kể đến như heo ăn ít, chậm tăng cân…


Heo có biểu hiện chán ăn

3. Phòng và trị bệnh viêm dạ dày, ruột ở heo

Hiện nay, chưa có phương thuốc đặc trị giúp điều trị viêm dạ dày, ruột ở heo hiệu quả. Do đó, với heo mắc bệnh, bà con hãy chú ý đến việc làm vệ sinh chuồng trại, tạo môi trường sống thoáng mát, khô ráo nhất để tăng sức đề kháng. Ngoài ra, heo mắc bệnh cũng cần được cách ly với heo khỏe mạnh để tránh lây lan dịch bệnh trên diện rộng. Bà con nên chú ý đến việc sử dụng men tiêu hóa hoặc men ủ vi sinh trong chế độ ăn, giúp ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh cũng như nhằm tăng sức đề kháng cho heo trong giai đoạn này.

Phác đồ như sau:
+ Sáng dùng Kháng thể E.COLI THT lợn kết hợp Amocin trộn tổng đàn
+ Chiều dùng Men BTV - Bacilcoli kết hợp BTC - Điện giải Gluco C trộn hoặc pha nước uống.

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh viêm dạ dày, viêm đường ruột ở heo

Là một trong những bệnh khá phổ biến ở heo, bệnh viêm dạ dày, ruột thường gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng nếu bà con không biết cách phòng ngừa và trị bệnh sao cho hợp lý. Do đó, nếu muốn bảo vệ đàn heo một cách tối ưu nhất, bà con cần đặc biệt chú ý đến một số điều ngay dưới đây.

1. Nguyên nhân gây bệnh viêm dạ dày, ruột ở heo

Được biết đến với tên gọi TGE, viêm dạ dày, ruột ở heo thường xuất hiện do Coronavirus gây ra. Bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ độ tuổi nào nhưng phát triển mạnh nhất ở heo con và gây tử vong trong thời gian ngắn do heo có sức đề kháng yếu.

Thông thường, virus gây bệnh viêm dạ dày, ruột thường xâm nhập cơ thể thông qua đường miệng hoặc đường mũi. Sau đó, chúng sẽ nhanh chóng phát triển trong ruột, dẫn đến rối loại tiêu hóa, heo bị tiêu chảy và chết sau 1-3 ngày.

2. Triệu trứng của bệnh viêm dạ dày, ruột

Các biểu hiện của bệnh viêm dạ dày, ruột tiêu biểu mà chúng ta có thể kể đến như lợn bị tiêu chảy với mùi hôi thối, nôn mửa nhiều, thiếu nước, yếu ớt và sau đó là chết. Với lợn con, hầu như tỉ lệ chết là 100%. Với lợn trưởng thành, tỉ lệ chết thấp hơn nhưng còn phụ thuộc vào điều kiện sống. Bên cạnh đó, tùy theo độ tuổi của heo cũng thường xuất hiện các triệu trứng khác nhau.

Ví dụ với heo nái, chúng sẽ có thêm các biểu hiện như bỏ ăn, tỉ lệ sữa giảm. Với heo con, chúng thường bỏ bú, sút cân. Với heo thịt, biểu hiện thường không rõ rệt. Tuy nhiên, ngoài tiêu chảy, một số biểu hiện khác có thể kể đến như heo ăn ít, chậm tăng cân…


Heo có biểu hiện chán ăn

3. Phòng và trị bệnh viêm dạ dày, ruột ở heo

Hiện nay, chưa có phương thuốc đặc trị giúp điều trị viêm dạ dày, ruột ở heo hiệu quả. Do đó, với heo mắc bệnh, bà con hãy chú ý đến việc làm vệ sinh chuồng trại, tạo môi trường sống thoáng mát, khô ráo nhất để tăng sức đề kháng. Ngoài ra, heo mắc bệnh cũng cần được cách ly với heo khỏe mạnh để tránh lây lan dịch bệnh trên diện rộng. Bà con nên chú ý đến việc sử dụng men tiêu hóa hoặc men ủ vi sinh trong chế độ ăn, giúp ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh cũng như nhằm tăng sức đề kháng cho heo trong giai đoạn này.

Phác đồ như sau:
+ Sáng dùng Kháng thể E.COLI THT lợn kết hợp Amocin trộn tổng đàn
+ Chiều dùng Men BTV - Bacilcoli kết hợp BTC - Điện giải Gluco C trộn hoặc pha nước uống.
Đọc thêm
Balantidium coli (Trùng lông) là một loại ký sinh trùng đơn bào đường ruột, còn được gọi là mao trùng vì nó di chuyển bằng lông, gây đau bụng, tiêu chảy ở người, động vật có vú, đặc biệt là gây bệnh tiêu chảy phân xám trên heo thịt.

Triệu chứng

– Một số trường hợp có những dấu hiệu như con vật giảm ăn, đau bụng, nôn mửa, đi tiêu chảy nhiều lần trong ngày, phân có thể sệt, loảng, có chất nhầy, máu có màu xám đen.

– Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, con bệnh có thể bị tử vong. Tỷ lệ tử vong do bệnh trùng lông B.coli gây nên có thể chiếm đến 29%. Nguyên nhân tử vong thường do biến chứng thủng ruột, xuất huyết đường tiêu hóa…


Bệnh tiêu chảy phân xám

Phòng và trị bệnh

– Vệ sinh sát trùng chuồng trại thường xuyên là biện pháp qua trọng để ngăn ngừa Balantidium coli tích tụ trong chuồng nuôi. Có thể sử dụng các thuốc sát trùng như: BTV – Glutar hoặc BTV - Iodine

– Lựa chọn và bảo quản thức ăn tốt nhằm giảm các độc tố nấm mốc trong thức ăn, giảm vi khuẩn gây bệnh.

– Xử lý nguồn nước uống, nước sinh hoạt bằng Chloride 5ppm trước khi sử dụng.

– Dùng BTV - Sulfuamox kết hợp Kháng thể E.COLI THT lợn trộn tổng đàn liên tục trong vòng 10-14 ngày.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Triệu chứng và biện pháp phòng trị bệnh tiêu chảy phân xám trên heo thịt

Balantidium coli (Trùng lông) là một loại ký sinh trùng đơn bào đường ruột, còn được gọi là mao trùng vì nó di chuyển bằng lông, gây đau bụng, tiêu chảy ở người, động vật có vú, đặc biệt là gây bệnh tiêu chảy phân xám trên heo thịt.

Triệu chứng

– Một số trường hợp có những dấu hiệu như con vật giảm ăn, đau bụng, nôn mửa, đi tiêu chảy nhiều lần trong ngày, phân có thể sệt, loảng, có chất nhầy, máu có màu xám đen.

– Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, con bệnh có thể bị tử vong. Tỷ lệ tử vong do bệnh trùng lông B.coli gây nên có thể chiếm đến 29%. Nguyên nhân tử vong thường do biến chứng thủng ruột, xuất huyết đường tiêu hóa…


Bệnh tiêu chảy phân xám

Phòng và trị bệnh

– Vệ sinh sát trùng chuồng trại thường xuyên là biện pháp qua trọng để ngăn ngừa Balantidium coli tích tụ trong chuồng nuôi. Có thể sử dụng các thuốc sát trùng như: BTV – Glutar hoặc BTV - Iodine

– Lựa chọn và bảo quản thức ăn tốt nhằm giảm các độc tố nấm mốc trong thức ăn, giảm vi khuẩn gây bệnh.

– Xử lý nguồn nước uống, nước sinh hoạt bằng Chloride 5ppm trước khi sử dụng.

– Dùng BTV - Sulfuamox kết hợp Kháng thể E.COLI THT lợn trộn tổng đàn liên tục trong vòng 10-14 ngày.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh Hồng Lỵ do xoắn khuẩn Serpulina hyodysenteria gây ra, thường xảy ra trên heo nhỏ (trên 40-70 kg) và nái. Xoắn khuẩn xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, bệnh có tính chất địa phương, xâm nhập vào trại do đưa heo nhiễm bệnh vào. Mầm bệnh bài thải qua phân. Điều kiện chăn nuôi kém, sức đề kháng heo giảm, heo dễ mắc bệnh. Lây lan do nhốt chung heo khỏe với heo bệnh.

a. Triệu chứng

Thể cấp tính: Heo sốt cao (trên 40 độ C), heo luôn ngoắt đuôi, đau vùng bụng, lưng còng lên, đỏ nhẹ ở da và bỏ ăn. Khi tiêu chảy có nhiều chất nhầy, máu và nhiều chất hoại tử trong phân khiến phân có mùi hôi khắm.

Thể mãn tính: Sau khi mắc bệnh ở thể cấp tính khoảng 1 tuần chuyển sang thể mãn tính. Heo hết sốt và bớt tiêu chảy và hiện tượng tiêu chảy kèm xuất huyết xảy ra cách ngày, lúc bị lúc không, phân chuyển sang nâu đen. Heo ăn kém, gầy và chết dần do mất nước, mất sức. 


Bệnh hồng lỵ

b. Bệnh tích

Xác chết còi cọc và nhợt nhạt, bệnh tích chủ yếu hướng đường ruột như: viêm manh kết tràng, hoại tử xuất huyết với nhiều sợi huyết, sung huyết và thủy thủng màng treo ruột.

c. Phòng bệnh 

Định kỳ vệ sinh tiêu độc chuồng trại bằng BTV – Glutar hoặc BTV – Iodine. Khi nhập heo về cần cách ly theo dõi 15 ngày để kiểm soát mầm bệnh.

d. Điều trị

- Sử dụng một số loại kháng sinh sau :
BTV - Tytan: 1ml/10kg thể trọng, ngày/ lần, 3-5 ngày.
BTV - Flodox1ml/7-10kg thể trọng kết hợp Septryl 240 1ml/15 kg thể trọng ngày/ lần, 3-5 ngày.
BTV - Lincopex: 1ml/7 kg thể trọng, ngày/ lần, 3-5 ngày.

- Trị triệu chứng
Kết hợp trộn cám hoặc cho heo uống Vitamin K giúp cầm máu

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Bệnh Hồng Lỵ trên heo

Bệnh Hồng Lỵ do xoắn khuẩn Serpulina hyodysenteria gây ra, thường xảy ra trên heo nhỏ (trên 40-70 kg) và nái. Xoắn khuẩn xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, bệnh có tính chất địa phương, xâm nhập vào trại do đưa heo nhiễm bệnh vào. Mầm bệnh bài thải qua phân. Điều kiện chăn nuôi kém, sức đề kháng heo giảm, heo dễ mắc bệnh. Lây lan do nhốt chung heo khỏe với heo bệnh.

a. Triệu chứng

Thể cấp tính: Heo sốt cao (trên 40 độ C), heo luôn ngoắt đuôi, đau vùng bụng, lưng còng lên, đỏ nhẹ ở da và bỏ ăn. Khi tiêu chảy có nhiều chất nhầy, máu và nhiều chất hoại tử trong phân khiến phân có mùi hôi khắm.

Thể mãn tính: Sau khi mắc bệnh ở thể cấp tính khoảng 1 tuần chuyển sang thể mãn tính. Heo hết sốt và bớt tiêu chảy và hiện tượng tiêu chảy kèm xuất huyết xảy ra cách ngày, lúc bị lúc không, phân chuyển sang nâu đen. Heo ăn kém, gầy và chết dần do mất nước, mất sức. 


Bệnh hồng lỵ

b. Bệnh tích

Xác chết còi cọc và nhợt nhạt, bệnh tích chủ yếu hướng đường ruột như: viêm manh kết tràng, hoại tử xuất huyết với nhiều sợi huyết, sung huyết và thủy thủng màng treo ruột.

c. Phòng bệnh 

Định kỳ vệ sinh tiêu độc chuồng trại bằng BTV – Glutar hoặc BTV – Iodine. Khi nhập heo về cần cách ly theo dõi 15 ngày để kiểm soát mầm bệnh.

d. Điều trị

- Sử dụng một số loại kháng sinh sau :
BTV - Tytan: 1ml/10kg thể trọng, ngày/ lần, 3-5 ngày.
BTV - Flodox1ml/7-10kg thể trọng kết hợp Septryl 240 1ml/15 kg thể trọng ngày/ lần, 3-5 ngày.
BTV - Lincopex: 1ml/7 kg thể trọng, ngày/ lần, 3-5 ngày.

- Trị triệu chứng
Kết hợp trộn cám hoặc cho heo uống Vitamin K giúp cầm máu

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Heo con ỉa phân trắng hay còn gọi là hội chứng tiêu chảy phân trắng khi heo con đang theo mẹ, thường xảy ra ở heo từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi.

Triệu chứng

– Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng hay gặp nhất khi thời tiết lạnh, độ ẩm cao.

– Gặp nhiều ở heo từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi, kém bú, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng xiêu vẹo.

– Heo đi ỉa, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh, heo gầy sút rất nhanh, hậu môn thường dính bết phân, phân dính nhiều vào đít, rặn rất nhiều khi ỉa. Màu phân lúc đầu màu trắng, màu xanh đen sau đó chuyển sang xám (màu tro bếp, màu xi măng) vàng nhạt, có mùi tanh, khắm đặc trưng.

– Heo con bị bệnh thường hay khát nước, hay tìm nước bẩn trong chuồng uống làm bệnh nặng thêm nếu không đảm bảo đủ nước sạch. Bệnh kéo dài 2 – 4 ngày, đôi khi nôn ra sữa chưa tiêu hoá nên có mùi chua, suy nhược nhanh, co giật, run rẩy và chết, tỷ lệ chết 50-80%.

– Đối với heo con từ 7 – 21 ngày tuổi nếu bị phân màu vàng kem có nhớt thường do bệnh Cầu trùng gây nên, nên điều trị bằng các kháng sinh thông thường khó khỏi bệnh. Vì vậy phải dùng BTV – Sulcoc cho uống. Phòng bệnh bằng cách cho uống thuốc phòng cầu trùng lúc 3 ngày tuổi.


Heo con đi ngoài phân lỏng, màu vàng có nhớt

Phòng bệnh

– Luôn giữ cho ô úm heo con đủ nhiệt (từ 32 – 33 độ C), giữ nền chuồng khô ráo

– Cho uống thuốc phòng bệnh cầu trùng lúc 3 ngày tuổi và tiêm sắt lúc 3 ngày tuổi

– Bấm nanh đúng kỹ thuật (do bấm nanh sai kỹ thuật bấm vào lợi heo con gây viêm lợi heo con đau không bú sữa mẹ dẫn đến tiêu chảy)

– Chăm sóc, nuôi dưỡng heo mẹ, heo con tốt, chú ý khâu thức ăn phải tốt cả về số lượng và chất lượng. Thực hiện tốt 3 khâu (chống lạnh, chống ẩm và chống bẩn), chuồng trại thoáng mát mùa hè, ấm mùa đông đồng thời tập cho heo con ăn sớm với thức ăn có chất lượng cao.

– Phòng bằng vắc xin cho cả heo mẹ và con, vắc xin được chế từ các chủng E.coli gây bệnh heo con phù đầu, bằng cách tiêm cho mẹ 1 – 2 tuần trước khi đẻ. Vắc xin có tác dụng bảo hộ 70% cho heo khi đang cho con bú. Định kỳ phun sát trùng chuồng trại bằng thuốc sát trùng để ngăn dịch bệnh.

– Điều trị : liên tục từ 3-5 ngày

+ Kháng sinh: Dùng các kháng sinh sau đây cho uống: BTV – Ampi - Anticoli hoặc BTV – Tiêu chảy đặt trị đặc trị hoặc BTV - Doxtin


+ Thuốc bổ: Dùng Men tiêu hóa BTV - Bacil - Coli kết hợp Điện giải Gluco C

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Khắc phục hội chứng tiêu chảy phân trắng ở heo con

Heo con ỉa phân trắng hay còn gọi là hội chứng tiêu chảy phân trắng khi heo con đang theo mẹ, thường xảy ra ở heo từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi.

Triệu chứng

– Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng hay gặp nhất khi thời tiết lạnh, độ ẩm cao.

– Gặp nhiều ở heo từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi, kém bú, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng xiêu vẹo.

– Heo đi ỉa, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh, heo gầy sút rất nhanh, hậu môn thường dính bết phân, phân dính nhiều vào đít, rặn rất nhiều khi ỉa. Màu phân lúc đầu màu trắng, màu xanh đen sau đó chuyển sang xám (màu tro bếp, màu xi măng) vàng nhạt, có mùi tanh, khắm đặc trưng.

– Heo con bị bệnh thường hay khát nước, hay tìm nước bẩn trong chuồng uống làm bệnh nặng thêm nếu không đảm bảo đủ nước sạch. Bệnh kéo dài 2 – 4 ngày, đôi khi nôn ra sữa chưa tiêu hoá nên có mùi chua, suy nhược nhanh, co giật, run rẩy và chết, tỷ lệ chết 50-80%.

– Đối với heo con từ 7 – 21 ngày tuổi nếu bị phân màu vàng kem có nhớt thường do bệnh Cầu trùng gây nên, nên điều trị bằng các kháng sinh thông thường khó khỏi bệnh. Vì vậy phải dùng BTV – Sulcoc cho uống. Phòng bệnh bằng cách cho uống thuốc phòng cầu trùng lúc 3 ngày tuổi.


Heo con đi ngoài phân lỏng, màu vàng có nhớt

Phòng bệnh

– Luôn giữ cho ô úm heo con đủ nhiệt (từ 32 – 33 độ C), giữ nền chuồng khô ráo

– Cho uống thuốc phòng bệnh cầu trùng lúc 3 ngày tuổi và tiêm sắt lúc 3 ngày tuổi

– Bấm nanh đúng kỹ thuật (do bấm nanh sai kỹ thuật bấm vào lợi heo con gây viêm lợi heo con đau không bú sữa mẹ dẫn đến tiêu chảy)

– Chăm sóc, nuôi dưỡng heo mẹ, heo con tốt, chú ý khâu thức ăn phải tốt cả về số lượng và chất lượng. Thực hiện tốt 3 khâu (chống lạnh, chống ẩm và chống bẩn), chuồng trại thoáng mát mùa hè, ấm mùa đông đồng thời tập cho heo con ăn sớm với thức ăn có chất lượng cao.

– Phòng bằng vắc xin cho cả heo mẹ và con, vắc xin được chế từ các chủng E.coli gây bệnh heo con phù đầu, bằng cách tiêm cho mẹ 1 – 2 tuần trước khi đẻ. Vắc xin có tác dụng bảo hộ 70% cho heo khi đang cho con bú. Định kỳ phun sát trùng chuồng trại bằng thuốc sát trùng để ngăn dịch bệnh.

– Điều trị : liên tục từ 3-5 ngày

+ Kháng sinh: Dùng các kháng sinh sau đây cho uống: BTV – Ampi - Anticoli hoặc BTV – Tiêu chảy đặt trị đặc trị hoặc BTV - Doxtin


+ Thuốc bổ: Dùng Men tiêu hóa BTV - Bacil - Coli kết hợp Điện giải Gluco C

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh tiêu chảyheo thịt xuất hiện vào mọi thời điểm trong năm. Heo con hay heo trưởng thành cũng có nguy cơ mắc bệnh như nhau. Vì thế, người chăn nuôi cần chú trọng khâu phòng tránh bệnh để đảm bảo hiệu quả kinh tế.


Bệnh tiêu chảy dễ lây lan trên đàn heo thịt

Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở heo thịt

Virus Coronavirus là nguyên nhân chính gây ra bệnh. Nó dễ dàng xâm nhập vào hệ tiêu hóa của heo con và heo trưởng thành. Đây là một trong số các bệnh về tiêu hóa phổ biến nhất của heo.

Triệu chứng khi mắc bệnh tiêu chảy

Bệnh có diễn biến rất nhanh. Trung bình thời gian ủ bệnh là từ 12 đến 18 tiếng. Trong khoảng thời gian này, người chăn nuôi sẽ thấy heo bị ói mửa và tiêu chảy. Phân heo có màu vàng hoặc màu đen. Bên cạnh đó, vệ sinh chuồng trại cũng bị ảnh hưởng vì mùi hôi từ phân. Bên cạnh đó, heo nái có nguy cơ mất sữa. 

Cách phòng tránh bệnh tiêu chảy ở heo thịt

Virus tiêu chảy nhạy cảm và dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ thấp. Vì thế, người chăn nuôi nên giữ nhiệt độ và độ ẩm chuồng trại ở mức hợp lý. Tùy vào điều kiện thời tiết, nhiệt độ chuồng heo thịt dao động dưới 24 độ C. Nhiệt độ này cũng giúp heo ăn ngon và phát triển khỏe mạnh hơn.

Việc khử trùng chuồng heo định kỳ với BTV - Glutar 1 tuần/ lần giúp khử trùng chuồng nuôi rất hiệu quả. Ngoài ra, người chăn nuôi cần vệ sinh máng ăn, máng uống và nền chuồng thường xuyên. Phân thải cũng là nguyên nhân gây lây lan virus rất nhanh.

Cách chữa trị

Bệnh tiêu chảy ở heo thịt gây ra bởi virus Coronavirus. Loại khuẩn PED tuýp I này xảy ra quanh năm và gây tỷ lệ chết thấp hơn so với các dịch tiêu chảy ở heo khác. Tuy nhiên, heo con với hệ miễn dịch kém có tỷ lệ tử vong cao hơn. Người chăn nuôi cần giảm tỷ lệ này với các phương pháp duy trì sức khỏe heo. Sau 21 ngày mắc bệnh, heo thịt thường có cơ hội khỏe lại.

Bệnh tiêu chảy ở heo thịt có thể được ngăn ngừa với nhiều biện pháp như vệ sinh chuồng trại, bổ sung dinh dưỡng hợp lý và sử dụng đúng loại thuốc điều trị. 

Nhưng khi trại đã gặp phải thì mức độ lây lan rất nhanh. Cần phải làm Auto vắc xin ngay tại trại, vì nếu để xuất hiện sang heo con thì tỷ lệ chết rất cao. 

Lấy ruột của heo bị bệnh, trộn cùng BTV - Amocin Y - 50 xay đều và cho tổng đàn heo ăn kết hợp cùng BTV - Kháng thể E.COLI THT lợn. Sau khi tổng đàn heo bị tiêu chảy ở mức độ ổn định thì điều trị triệu chứng, sau vài ngày heo sẽ ổn đinh.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và điều trị bệnh tiêu chảy ở heo thịt

Bệnh tiêu chảyheo thịt xuất hiện vào mọi thời điểm trong năm. Heo con hay heo trưởng thành cũng có nguy cơ mắc bệnh như nhau. Vì thế, người chăn nuôi cần chú trọng khâu phòng tránh bệnh để đảm bảo hiệu quả kinh tế.


Bệnh tiêu chảy dễ lây lan trên đàn heo thịt

Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở heo thịt

Virus Coronavirus là nguyên nhân chính gây ra bệnh. Nó dễ dàng xâm nhập vào hệ tiêu hóa của heo con và heo trưởng thành. Đây là một trong số các bệnh về tiêu hóa phổ biến nhất của heo.

Triệu chứng khi mắc bệnh tiêu chảy

Bệnh có diễn biến rất nhanh. Trung bình thời gian ủ bệnh là từ 12 đến 18 tiếng. Trong khoảng thời gian này, người chăn nuôi sẽ thấy heo bị ói mửa và tiêu chảy. Phân heo có màu vàng hoặc màu đen. Bên cạnh đó, vệ sinh chuồng trại cũng bị ảnh hưởng vì mùi hôi từ phân. Bên cạnh đó, heo nái có nguy cơ mất sữa. 

Cách phòng tránh bệnh tiêu chảy ở heo thịt

Virus tiêu chảy nhạy cảm và dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ thấp. Vì thế, người chăn nuôi nên giữ nhiệt độ và độ ẩm chuồng trại ở mức hợp lý. Tùy vào điều kiện thời tiết, nhiệt độ chuồng heo thịt dao động dưới 24 độ C. Nhiệt độ này cũng giúp heo ăn ngon và phát triển khỏe mạnh hơn.

Việc khử trùng chuồng heo định kỳ với BTV - Glutar 1 tuần/ lần giúp khử trùng chuồng nuôi rất hiệu quả. Ngoài ra, người chăn nuôi cần vệ sinh máng ăn, máng uống và nền chuồng thường xuyên. Phân thải cũng là nguyên nhân gây lây lan virus rất nhanh.

Cách chữa trị

Bệnh tiêu chảy ở heo thịt gây ra bởi virus Coronavirus. Loại khuẩn PED tuýp I này xảy ra quanh năm và gây tỷ lệ chết thấp hơn so với các dịch tiêu chảy ở heo khác. Tuy nhiên, heo con với hệ miễn dịch kém có tỷ lệ tử vong cao hơn. Người chăn nuôi cần giảm tỷ lệ này với các phương pháp duy trì sức khỏe heo. Sau 21 ngày mắc bệnh, heo thịt thường có cơ hội khỏe lại.

Bệnh tiêu chảy ở heo thịt có thể được ngăn ngừa với nhiều biện pháp như vệ sinh chuồng trại, bổ sung dinh dưỡng hợp lý và sử dụng đúng loại thuốc điều trị. 

Nhưng khi trại đã gặp phải thì mức độ lây lan rất nhanh. Cần phải làm Auto vắc xin ngay tại trại, vì nếu để xuất hiện sang heo con thì tỷ lệ chết rất cao. 

Lấy ruột của heo bị bệnh, trộn cùng BTV - Amocin Y - 50 xay đều và cho tổng đàn heo ăn kết hợp cùng BTV - Kháng thể E.COLI THT lợn. Sau khi tổng đàn heo bị tiêu chảy ở mức độ ổn định thì điều trị triệu chứng, sau vài ngày heo sẽ ổn đinh.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh tiêu chảyheo con là một loại bệnh phổ biến mà người chăn nuôi thường gặp và được quan tâm nhiều nhất. Bệnh gây thiệt hại kinh tế rất nặng nề do ảnh hưởng tới cả quá trình chăn nuôi vì khi mắc bệnh, heo con sẽ gấy ốm, giảm đề kháng, giảm tăng trọng hoặc thậm chí heo con sẽ bị chết.

1. Nguyên nhân của bệnh tiêu chảy

Bệnh tiêu chảy là hiện tượng bài tiết phân dưới dạng lỏng. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra nên cần phải có cách tiếp cận để tìm được nguyên nhân gây bệnh để điều trị hiệu quả.

Nguyên nhân chính gây ra tiêu chảy là do sự mất cân bằng của vi thực bào trong ruột – một loại vi khuẩn được biết là cần thiết để hệ tiêu hóa hoạt động bình thường. Nếu có bất kỳ thay đổi nào trong ruột có thể dẫn đến rối loạn cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và vi khuẩn gây bệnh. Kết quả là sự tiết lưu chất lỏng và chất điện giải sẽ diễn ra bất thường trong ruột.

Cơ thể heo con đặc biệt rất nhạy cảm, dễ tổn thương do hệ tiêu hóa của chúng vẫn còn non nớt và vẫn chưa phát triển hoàn chỉnh nên dễ nhiễm bệnh tiêu chảy. Đôi khi chỉ một rối loạn nhỏ cũng dễ dàng kích ứng bệnh bộc phát.


Heo con bị bệnh tiêu chảy phân xám

a. Vi khuẩn

– Một số vi khuẩn là nguyên nhân gây ra tiêu chảy, thủ phạm chính là E. coli, Campylobacter và Samonella.

– Heo con tiêu chảy phân màu trắng, vàng lẫn bọt khí. Giảm bú ngày càng nặng dẫn đến mất nước và điện giải nên bệnh súc gầy, yếu, đi lại khó khăn, lông xù, da khô, thân nhiệt tăng hoặc bình thường. Nếu không điều trị kịp thời chuyển qua mãn tính dẫn đến heo còi cọc và chết.

b. Virus

– Virus tiêu chảy cấp trên heo (PED): thường xuất hiện ở chuồng trại không vệ sinh sạch sẽ, lạnh, ẩm ướt và heo con chưa được tiêm sắt… 

– Do virus Rotavirus: Bất cứ khi nào thấy bệnh tiêu chảy ở heo con 10-40 ngày tuổi thì có thể suy đoán rằng nhiễm rotavirus như là nguyên nhân chính hoặc là một nguyên nhân thứ phát

c. Bệnh cầu trùng

* Giai đoạn 1: nhiễm cầu trùng

– Phân heo tiêu chảy từ vàng đến xám là biểu hiện lâm sàng quan trọng. Ban đầu phân sệt hoặc lỏng, sau đó càng ngày càng lỏng hơn trong suốt quá trình nhiễm.

– Thân heo xù lông, dính phân có mùi hôi. Trong trường hợp bệnh nặng heo con có thể hôn mê rồi chết vì mất nước đáng kể.

* Giai đoạn 2: bị bội nhiễm các bệnh khác ngoài cầu trùng.

Nếu heo chỉ nhiễm cầu trùng thôi thì tỷ lệ chết sẽ ở mức trung bình, nhưng nếu bội nhiễm thêm các vi khuẩn, virus hay ký sinh trùng thì tỷ lệ chết sẽ cao và biểu hiện lâm sàng sẽ phức tạp hơn. 

d. Chế độ ăn uống và dinh dưỡng

Tiêu chảy có thể xảy ra bởi bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ ăn của heo con. Sự khác biệt trong đặc điểm dinh dưỡng hoặc chất lượng thức ăn cũng gây nên rối loạn tiêu hóa. Việc thay đổi thành phần thức ăn, hay thậm chí thay đổi về số lượng thức ăn cũng là nguyên nhân gây nên bệnh. Việc nguồn nước hoặc nguồn thức ăn bị nhiễm bẩn cũng góp phần ảnh hưởng không tốt đến chức năng dạ dày và ruột.

2. Phương thức điều trị

+ Dùng BTV - Kháng thể E.COLI THT lợn pha nước cho heo

+ Tiêm heo tiêu chảy hoặc tổng đàn 1 trong những thuốc sau: BTV – Entril 10% liều 1ml/20kg thể trọng, hoặc Enrofloxacin 5% liều 1ml/10kg thể trọng, hoặc BTV – Flodox 1ml/10kg. Nên kết hợp cùng BTV - Nagin sẽ cho hiệu quả điều trị tốt.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Bệnh tiêu chảy trên heo con

Bệnh tiêu chảyheo con là một loại bệnh phổ biến mà người chăn nuôi thường gặp và được quan tâm nhiều nhất. Bệnh gây thiệt hại kinh tế rất nặng nề do ảnh hưởng tới cả quá trình chăn nuôi vì khi mắc bệnh, heo con sẽ gấy ốm, giảm đề kháng, giảm tăng trọng hoặc thậm chí heo con sẽ bị chết.

1. Nguyên nhân của bệnh tiêu chảy

Bệnh tiêu chảy là hiện tượng bài tiết phân dưới dạng lỏng. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra nên cần phải có cách tiếp cận để tìm được nguyên nhân gây bệnh để điều trị hiệu quả.

Nguyên nhân chính gây ra tiêu chảy là do sự mất cân bằng của vi thực bào trong ruột – một loại vi khuẩn được biết là cần thiết để hệ tiêu hóa hoạt động bình thường. Nếu có bất kỳ thay đổi nào trong ruột có thể dẫn đến rối loạn cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và vi khuẩn gây bệnh. Kết quả là sự tiết lưu chất lỏng và chất điện giải sẽ diễn ra bất thường trong ruột.

Cơ thể heo con đặc biệt rất nhạy cảm, dễ tổn thương do hệ tiêu hóa của chúng vẫn còn non nớt và vẫn chưa phát triển hoàn chỉnh nên dễ nhiễm bệnh tiêu chảy. Đôi khi chỉ một rối loạn nhỏ cũng dễ dàng kích ứng bệnh bộc phát.


Heo con bị bệnh tiêu chảy phân xám

a. Vi khuẩn

– Một số vi khuẩn là nguyên nhân gây ra tiêu chảy, thủ phạm chính là E. coli, Campylobacter và Samonella.

– Heo con tiêu chảy phân màu trắng, vàng lẫn bọt khí. Giảm bú ngày càng nặng dẫn đến mất nước và điện giải nên bệnh súc gầy, yếu, đi lại khó khăn, lông xù, da khô, thân nhiệt tăng hoặc bình thường. Nếu không điều trị kịp thời chuyển qua mãn tính dẫn đến heo còi cọc và chết.

b. Virus

– Virus tiêu chảy cấp trên heo (PED): thường xuất hiện ở chuồng trại không vệ sinh sạch sẽ, lạnh, ẩm ướt và heo con chưa được tiêm sắt… 

– Do virus Rotavirus: Bất cứ khi nào thấy bệnh tiêu chảy ở heo con 10-40 ngày tuổi thì có thể suy đoán rằng nhiễm rotavirus như là nguyên nhân chính hoặc là một nguyên nhân thứ phát

c. Bệnh cầu trùng

* Giai đoạn 1: nhiễm cầu trùng

– Phân heo tiêu chảy từ vàng đến xám là biểu hiện lâm sàng quan trọng. Ban đầu phân sệt hoặc lỏng, sau đó càng ngày càng lỏng hơn trong suốt quá trình nhiễm.

– Thân heo xù lông, dính phân có mùi hôi. Trong trường hợp bệnh nặng heo con có thể hôn mê rồi chết vì mất nước đáng kể.

* Giai đoạn 2: bị bội nhiễm các bệnh khác ngoài cầu trùng.

Nếu heo chỉ nhiễm cầu trùng thôi thì tỷ lệ chết sẽ ở mức trung bình, nhưng nếu bội nhiễm thêm các vi khuẩn, virus hay ký sinh trùng thì tỷ lệ chết sẽ cao và biểu hiện lâm sàng sẽ phức tạp hơn. 

d. Chế độ ăn uống và dinh dưỡng

Tiêu chảy có thể xảy ra bởi bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ ăn của heo con. Sự khác biệt trong đặc điểm dinh dưỡng hoặc chất lượng thức ăn cũng gây nên rối loạn tiêu hóa. Việc thay đổi thành phần thức ăn, hay thậm chí thay đổi về số lượng thức ăn cũng là nguyên nhân gây nên bệnh. Việc nguồn nước hoặc nguồn thức ăn bị nhiễm bẩn cũng góp phần ảnh hưởng không tốt đến chức năng dạ dày và ruột.

2. Phương thức điều trị

+ Dùng BTV - Kháng thể E.COLI THT lợn pha nước cho heo

+ Tiêm heo tiêu chảy hoặc tổng đàn 1 trong những thuốc sau: BTV – Entril 10% liều 1ml/20kg thể trọng, hoặc Enrofloxacin 5% liều 1ml/10kg thể trọng, hoặc BTV – Flodox 1ml/10kg. Nên kết hợp cùng BTV - Nagin sẽ cho hiệu quả điều trị tốt.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Vệ sinh thức ăn

Thức ăn nuôi gà dưới dạng cám vì mọi thứ nguyên liệu để pha trộn đều được xay nhuyễn nên mới có tên gọi là cám gà: “cám gà con”, “cám gà đẻ”, “cám gà thịt” ….

Các nguyên liệu dùng làm cám gà đều chứa nhiều chất bổ dưỡng, mà hầu hết đều dễ bị ôi mốc nếu để lâu ngày. Vì vậy cần có sự bảo quản tốt.

Thường thì cám gà trộn một lần nên dùng đến hai ba tháng sau mà thôi. Thức ăn cũ quá sẽ bị mốc meo mất hết chất bổ dưỡng, nên gà ăn vào đã vô bổ lại còn bị nhiễm độc lăn ra chết hàng loạt như bị bệnh dịch vậy. Ăn phải thức ăn thiu thối, ôi mốc, gà sẽ bị sưng diều sình ruột, tiêu chảy … không có cách này chữa trị được.

Thức ăn nuôi gà cần được chứa trong lu, thùng phuy rồi chọn nơi cao ráo thoáng mát trong nhà, trong trại mà cất giữ. Ngoài ra, những vật chứa đó cần được đậy kỹ để không bị chuột, kiến, giám bò vào ăn, vừa làm hao bớt thức ăn vừa gieo rắc vi trùng từ ngoài vào, nhất là từ những trại gà xung quanh đang bị dịch khí hoành hành.

Thức ăn nuôi gà, hết ngày còn thừa lại bao nhiêu cũng phải đổ bỏ đừng tiếc. Vì vậy, ta nên liệu chừng đong lường cho đúng, sao cho gà trong chuồng không bị thiếu thức ăn, mà dư thì hốt bỏ đi cũng uổng phí

Thức ăn của gà trong ngày còn thừa trong máng thường không còn sạch, không còn khô ráo, mùi thơm biến mất mà đã bốc mùi chua. Vì thức ăn của gà là cám khô nên chúng thường khát nước. Hễ ăn cám một lúc thì gà lại đi tìm máng nước để uống. Sau đó nó lại trở về máng ăn với cái mỏ còn dính nước nên cám trong máng thường bị thấm nước, vài giờ sau bị chua, bị lên men.

Số cám còn thừa này nếu tiếc mà để qua hôm sau cho gà ăn lại, chắc chắn gà không tránh khỏi bị ngộ độc.


Vệ sinh thức ăn cho gà

Vệ sinh nước uống

Trên là giữ vệ sinh thức ăn cho gà. Còn vệ sinh nước uống cũng là khâu cần được quan tâm đúng mức.

Nước dùng cho gà uống phải là nước tinh khiết dành cho người dùng. Nói cách khác, loại nước gì ta uống được thì mới đổ vào máng cho gà uống. Đó là nước máy, nước mưa, nước giếng.

Chỉ trong trường hợp cần phòng bệnh hoặc tăng cường sức khoẻ cho gà ta mới pha thuốc vào máng nước cho gà uống trong một thời gian nhất định nào đó mà thôi. 

Cũng như động vật khác, gà có thể nhịn ăn được một vài ngày, nhưng không thể chịu khát một ngày. Hễ bị khát nước là gà nhanh chóng mất sức. Như gà con mới nở một hai ngày đầu không ăn không sao, nhưng không cho uống nước thì chúng sẽ chết.

Do thức ăn của gà là cám khô nên gà uống nước rất nhiều. Vì vậy, ta nên đổ đầy máng nước cho gà uống thoả thích. Nên châm nước sạch vào máng nước nhiều lần trong ngày.

Mỗi sáng, ta lấy máng nước ra cọ rửa sạch, trước khi thay mới vào cho gà uống.

Nhiều người cẩn thận hơn, mỗi sáng họ thay máng nước mới vào chuồng gà, lấy máng cũ ra cọ rửa sạch rồi phơi nắng tiệt trùng để dành dùng cho hôm sau.

Máng nước uống của gà mà hằng ngày không được cọ rửa sạch sẽ thì nước uống đổ vào mau chua, khiến gà uống phải dễ sinh bệnh, như ăn phải loại cám ướt, ôi, mốc vậy.

Việc giữ vệ sinh thức ăn nước uống cho gà càng chu đáo thì đàn gà trong chuồng sẽ sinh trưởng tốt, tăng trọng nhanh và có năng suất trứng cao.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Vệ sinh thức ăn, nước uống nuôi gà

Vệ sinh thức ăn

Thức ăn nuôi gà dưới dạng cám vì mọi thứ nguyên liệu để pha trộn đều được xay nhuyễn nên mới có tên gọi là cám gà: “cám gà con”, “cám gà đẻ”, “cám gà thịt” ….

Các nguyên liệu dùng làm cám gà đều chứa nhiều chất bổ dưỡng, mà hầu hết đều dễ bị ôi mốc nếu để lâu ngày. Vì vậy cần có sự bảo quản tốt.

Thường thì cám gà trộn một lần nên dùng đến hai ba tháng sau mà thôi. Thức ăn cũ quá sẽ bị mốc meo mất hết chất bổ dưỡng, nên gà ăn vào đã vô bổ lại còn bị nhiễm độc lăn ra chết hàng loạt như bị bệnh dịch vậy. Ăn phải thức ăn thiu thối, ôi mốc, gà sẽ bị sưng diều sình ruột, tiêu chảy … không có cách này chữa trị được.

Thức ăn nuôi gà cần được chứa trong lu, thùng phuy rồi chọn nơi cao ráo thoáng mát trong nhà, trong trại mà cất giữ. Ngoài ra, những vật chứa đó cần được đậy kỹ để không bị chuột, kiến, giám bò vào ăn, vừa làm hao bớt thức ăn vừa gieo rắc vi trùng từ ngoài vào, nhất là từ những trại gà xung quanh đang bị dịch khí hoành hành.

Thức ăn nuôi gà, hết ngày còn thừa lại bao nhiêu cũng phải đổ bỏ đừng tiếc. Vì vậy, ta nên liệu chừng đong lường cho đúng, sao cho gà trong chuồng không bị thiếu thức ăn, mà dư thì hốt bỏ đi cũng uổng phí

Thức ăn của gà trong ngày còn thừa trong máng thường không còn sạch, không còn khô ráo, mùi thơm biến mất mà đã bốc mùi chua. Vì thức ăn của gà là cám khô nên chúng thường khát nước. Hễ ăn cám một lúc thì gà lại đi tìm máng nước để uống. Sau đó nó lại trở về máng ăn với cái mỏ còn dính nước nên cám trong máng thường bị thấm nước, vài giờ sau bị chua, bị lên men.

Số cám còn thừa này nếu tiếc mà để qua hôm sau cho gà ăn lại, chắc chắn gà không tránh khỏi bị ngộ độc.


Vệ sinh thức ăn cho gà

Vệ sinh nước uống

Trên là giữ vệ sinh thức ăn cho gà. Còn vệ sinh nước uống cũng là khâu cần được quan tâm đúng mức.

Nước dùng cho gà uống phải là nước tinh khiết dành cho người dùng. Nói cách khác, loại nước gì ta uống được thì mới đổ vào máng cho gà uống. Đó là nước máy, nước mưa, nước giếng.

Chỉ trong trường hợp cần phòng bệnh hoặc tăng cường sức khoẻ cho gà ta mới pha thuốc vào máng nước cho gà uống trong một thời gian nhất định nào đó mà thôi. 

Cũng như động vật khác, gà có thể nhịn ăn được một vài ngày, nhưng không thể chịu khát một ngày. Hễ bị khát nước là gà nhanh chóng mất sức. Như gà con mới nở một hai ngày đầu không ăn không sao, nhưng không cho uống nước thì chúng sẽ chết.

Do thức ăn của gà là cám khô nên gà uống nước rất nhiều. Vì vậy, ta nên đổ đầy máng nước cho gà uống thoả thích. Nên châm nước sạch vào máng nước nhiều lần trong ngày.

Mỗi sáng, ta lấy máng nước ra cọ rửa sạch, trước khi thay mới vào cho gà uống.

Nhiều người cẩn thận hơn, mỗi sáng họ thay máng nước mới vào chuồng gà, lấy máng cũ ra cọ rửa sạch rồi phơi nắng tiệt trùng để dành dùng cho hôm sau.

Máng nước uống của gà mà hằng ngày không được cọ rửa sạch sẽ thì nước uống đổ vào mau chua, khiến gà uống phải dễ sinh bệnh, như ăn phải loại cám ướt, ôi, mốc vậy.

Việc giữ vệ sinh thức ăn nước uống cho gà càng chu đáo thì đàn gà trong chuồng sẽ sinh trưởng tốt, tăng trọng nhanh và có năng suất trứng cao.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Ăn trứng là một thói xấu khó bỏ một khi đã xuất hiện. Nó thường khởi đầu khi một trứng bị nứt trong ổ. Một con gà mái đang đói hay buồn chán thử mổ một miếng, rồi bén mùi trứng tươi và lan truyền tật xấu cho toàn bộ bầy gà giống như hỏa hoạn. Có một số cách để phòng ngừa gà ăn trứng và loại bỏ tật này nếu nó xuất hiện.



Phòng và trị tật ăn trứng ở gà

Cách phòng ngừa tật ăn trứng
  • Lấy trứng càng sớm càng tốt sau khi gà mái đẻ, sáng sớm hay chiều muộn là những thời điểm thích hợp nhất.
  • Lót ổ bằng chất liệu mềm để trứng khó bị vỡ. Làm vệ sinh toàn bộ tổ nếu trứng vỡ và dọn sạch vỏ trứng.
  • Bố trí ổ đủ lớn để gà mái không dẫm lên trứng hay đẻ ở vị trí mà trứng dễ bị vỡ.
  • Đừng để gà mái quá đói đến nỗi chúng tìm trứng để ăn.
  • Đảm bảo gà mái được cho ăn đầy đủ can-xi, protein và sạn. Nếu vỏ trứng mỏng và mềm, hãy bổ sung thêm sạn và bột vỏ sò vào thực đơn của gà.
  • Những hành vi như ăn trứng, rỉa, cắn lông và thịt sẽ gia tăng một khi gà bị thiếu vitamin D. Hãy bổ sung dầu gan cá vào thức ăn của chúng.
  • Đừng cho gà mái ăn vỏ trứng, sinh ra thói quen lệch lạc. Đảm bảo rằng vỏ phải được nghiền nát thành vụn nhỏ.
  • Đặt vật cứng hình dạng giống như trứng vào ổ để gà mái không cảm thấy dễ chịu khi rỉa nó.
  • Gà mái buồn chán thường rỉa trứng. Hãy dụ chúng tập trung vào việc tìm và mổ thức ăn.
  • Một khi tật ăn trứng xuất hiện, nó sẽ nhanh chóng lan ra toàn bộ bầy gà mái, nhất là khi bạn không cung cấp đủ thức ăn cho chúng. Ăn trứng là tật tệ hại và sự phát triển của bầy gà bị ảnh hưởng vì nó. Hãy hành động thật nhanh, thời gian là yếu tố sống còn.

Cách loại bỏ tật ăn trứng
  • Phát hiện con gà mái ăn trứng. Nếu thấy một con như vậy, hãy gắn vòng ở cổ chân để dễ nhận dạng.
  • Loại bỏ ổ hay khu vực một khi phát hiện thấy trứng vỡ. Nếu bạn sử dụng ổ kim loại, hãy thay đáy và đặt thứ gì vào đó để cản gà vào. Nếu gà mái đẻ bên ngoài ổ, hãy rào lại hay đặt vật gì vào đó, chẳng hạn cái chậu để gà không thể vào. 
  • Luôn cung cấp loại thức ăn chất lượng với đầy đủ thành phần đạm và sạn. 
  • Đặt trứng thối hay trứng giả vào tổ. Trứng thối có thể luộc hay bơm vào những chất khó nuốt đối với gà, chẳng hạn như mù tạt.
  • Che kín tổ bằng vải để tổ tối hơn và gà khó nhận ra trứng. Gà không nhìn tốt trong bóng tối, chúng sẽ không rỉa trứng.
  • Gà nuôi nhốt trong chuồng nhỏ đôi khi rỉa trứng bởi vì chúng không có gì khác để làm. Tạo không gian để chúng đào bới thỏa thích có thể làm giảm nhu cầu ăn trứng.
  • Tách riêng gà mái ăn trứng ra khỏi bầy một vài ngày, rồi lại thả chung. Điều này nhằm thay đổi thói quen và có lẽ cả nhu cầu rỉa trứng.
  • Dùng bấm móng tay để tỉa mỏ cho tù. Điều này hạn chế khả năng mổ trứng. Đừng bấm mỏ quá sâu để không phạm phải dây thần kinh, gây tổn thương và biến dạng vĩnh viễn. Mỏ sẽ mọc lại nếu bạn không tỉa quá sâu.
  • Dời con gà ăn trứng qua chuồng khác. 

Đôi khi, gà mái tơ đẻ trứng vỏ mềm hay thậm chí không có vỏ; trứng rất mỏng manh và có xu hướng bị ăn. Nếu được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và sạn, gà mái tơ có lẽ sẽ ngừng ăn trứng và vấn đề sẽ tự động biến mất

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Cách phòng ngừa và loại bỏ tật ắn trứng cho gà mái

Ăn trứng là một thói xấu khó bỏ một khi đã xuất hiện. Nó thường khởi đầu khi một trứng bị nứt trong ổ. Một con gà mái đang đói hay buồn chán thử mổ một miếng, rồi bén mùi trứng tươi và lan truyền tật xấu cho toàn bộ bầy gà giống như hỏa hoạn. Có một số cách để phòng ngừa gà ăn trứng và loại bỏ tật này nếu nó xuất hiện.



Phòng và trị tật ăn trứng ở gà

Cách phòng ngừa tật ăn trứng
  • Lấy trứng càng sớm càng tốt sau khi gà mái đẻ, sáng sớm hay chiều muộn là những thời điểm thích hợp nhất.
  • Lót ổ bằng chất liệu mềm để trứng khó bị vỡ. Làm vệ sinh toàn bộ tổ nếu trứng vỡ và dọn sạch vỏ trứng.
  • Bố trí ổ đủ lớn để gà mái không dẫm lên trứng hay đẻ ở vị trí mà trứng dễ bị vỡ.
  • Đừng để gà mái quá đói đến nỗi chúng tìm trứng để ăn.
  • Đảm bảo gà mái được cho ăn đầy đủ can-xi, protein và sạn. Nếu vỏ trứng mỏng và mềm, hãy bổ sung thêm sạn và bột vỏ sò vào thực đơn của gà.
  • Những hành vi như ăn trứng, rỉa, cắn lông và thịt sẽ gia tăng một khi gà bị thiếu vitamin D. Hãy bổ sung dầu gan cá vào thức ăn của chúng.
  • Đừng cho gà mái ăn vỏ trứng, sinh ra thói quen lệch lạc. Đảm bảo rằng vỏ phải được nghiền nát thành vụn nhỏ.
  • Đặt vật cứng hình dạng giống như trứng vào ổ để gà mái không cảm thấy dễ chịu khi rỉa nó.
  • Gà mái buồn chán thường rỉa trứng. Hãy dụ chúng tập trung vào việc tìm và mổ thức ăn.
  • Một khi tật ăn trứng xuất hiện, nó sẽ nhanh chóng lan ra toàn bộ bầy gà mái, nhất là khi bạn không cung cấp đủ thức ăn cho chúng. Ăn trứng là tật tệ hại và sự phát triển của bầy gà bị ảnh hưởng vì nó. Hãy hành động thật nhanh, thời gian là yếu tố sống còn.

Cách loại bỏ tật ăn trứng
  • Phát hiện con gà mái ăn trứng. Nếu thấy một con như vậy, hãy gắn vòng ở cổ chân để dễ nhận dạng.
  • Loại bỏ ổ hay khu vực một khi phát hiện thấy trứng vỡ. Nếu bạn sử dụng ổ kim loại, hãy thay đáy và đặt thứ gì vào đó để cản gà vào. Nếu gà mái đẻ bên ngoài ổ, hãy rào lại hay đặt vật gì vào đó, chẳng hạn cái chậu để gà không thể vào. 
  • Luôn cung cấp loại thức ăn chất lượng với đầy đủ thành phần đạm và sạn. 
  • Đặt trứng thối hay trứng giả vào tổ. Trứng thối có thể luộc hay bơm vào những chất khó nuốt đối với gà, chẳng hạn như mù tạt.
  • Che kín tổ bằng vải để tổ tối hơn và gà khó nhận ra trứng. Gà không nhìn tốt trong bóng tối, chúng sẽ không rỉa trứng.
  • Gà nuôi nhốt trong chuồng nhỏ đôi khi rỉa trứng bởi vì chúng không có gì khác để làm. Tạo không gian để chúng đào bới thỏa thích có thể làm giảm nhu cầu ăn trứng.
  • Tách riêng gà mái ăn trứng ra khỏi bầy một vài ngày, rồi lại thả chung. Điều này nhằm thay đổi thói quen và có lẽ cả nhu cầu rỉa trứng.
  • Dùng bấm móng tay để tỉa mỏ cho tù. Điều này hạn chế khả năng mổ trứng. Đừng bấm mỏ quá sâu để không phạm phải dây thần kinh, gây tổn thương và biến dạng vĩnh viễn. Mỏ sẽ mọc lại nếu bạn không tỉa quá sâu.
  • Dời con gà ăn trứng qua chuồng khác. 

Đôi khi, gà mái tơ đẻ trứng vỏ mềm hay thậm chí không có vỏ; trứng rất mỏng manh và có xu hướng bị ăn. Nếu được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và sạn, gà mái tơ có lẽ sẽ ngừng ăn trứng và vấn đề sẽ tự động biến mất

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Trong chăn nuôi gà nói riêng, chăn nuôi gia cầm nói chung thì chúng ta thường xuyên gặp các loại bệnh ở gà như bệnh đậu gà, bệnh cúm gia cầm, bệnh ỉa chảy….. Ngoài các bệnh cơ bản trên thì vấn đề gà còi cọc chậm lớn cũng là điều đáng lo ngại đối với người chăn nuôi, bởi nó làm giảm hiệu quả chăn nuôi, tăng chi phí, tốn thức ăn và bệnh này cũng có thể lây lan trong đàn.

Trong một đàn gà cùng lứa tuổi, sau vài tháng chăn nuôi các bạn sẽ thấy có những con chậm lớn, xù lông, lông xơ xác, nhìn thiếu sức sống. Mới đầu chúng ta có thể nghĩ rằng những con đó bị bệnh và chúng sẽ bị nặng hơn, nhưng chúng cứ gầy như vậy và rất chậm lớn. Bệnh tưởng không nặng nhưng nếu số lượng nhiều sẽ làm giảm hiệu quả chăn nuôi và có thể lây lan trong đàn, tuy không phải ở mức độ quá nguy hiểm nhưng nó sẽ âm thầm lây bệnh trên diện rộng.


Gà còi cọc chậm lớn

Nguyên nhân nào dẫn tới gà còi cọc chậm lớn

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới gà bị còi cọc chậm lớn, như gà bị giun sán, gà mắc bệnh mãn tính, gà lười ăn, gà bị bệnh ecoli, hoặc gà bị còi cọc ngay từ khi mới nở….

Nguyên nhân giun sán: gà có nhiều giun sán trong đường ruột sẽ dẫn tới gà còi cọc chậm lớn. Khi bị giun sán thì hệ tiêu hóa sẽ làm việc kém hơn, bao nhiêu chất dinh dưỡng của thức ăn đều bị giun sán hấp thụ hết, do vậy gà không thể lớn. Để khắc phục vấn đề này, người chăn nuôi phải thường xuyên tẩy giun sán cho gia cầm định kỳ.

Nguyên nhân ấp nở: lý do tiếp theo có thể dẫn tới vấn đề này là quá trình ấp nở chưa tốt. Trong quá trình ấp trứng gà bằng máy ấp trứng hay lò ấp thủ công, nếu bị thiếu nhiệt hay quá nhiệt cũng làm gà con nở không đạt tiêu chuẩn, dẫn tới gà sẽ phát triển không bình thường trong suốt quá trình. Để khắc phục vấn đề này, các bạn điều chỉnh lại nhiệt độ ấp cho máy ấp, nếu mua con giống ở cơ sở thì cần chọn những con giống khỏe mạnh, to con, lông bông, mắt sáng, nhanh nhẹn… như vậy sẽ đảm bảo gà phát triển tốt.

Gà bị mắc bệnh mãn tính: gà bị mắc những bệnh mãn tính sẽ chậm lớn, cơ thể khó hấp thu chất dinh dưỡng dẫn tới còi cọc chậm lớn. Vấn đề này các bạn cần tìm hiểu thêm các triệu trứng khác để biết gà đang mắc bệnh gì mới có thể khắc phục triệt để.

Gà bị bệnh đã chữa khỏi: gà bị mắc bệnh sau một thời gian và được chữa khỏi, tuy nhiên thì không phải cứ khỏi bệnh là gà đã phát triển bình thường, nhiều trường hợp sau bệnh gà sẽ chậm lớn và trở nên còi cọc. Cách khắc phục tốt nhất vấn đề này là tách chúng ra nuôi riêng, nếu vẫn chậm lớn thì sớm loại bỏ.

Mật độ nuôi quá lớn: khi mật độ nuôi lớn sẽ dẫn tới gà không có không gian để chơi và phát triển bình thường, dần dần xuất hiện những con kém ăn hoặc không tranh được với những con khác. Biện pháp khắc phục là nuôi mật độ vừa phải, máng ăn nên bố trí rải rác để con nào cũng được ăn thoải mái. Như vậy gà mới phát triển bình thường. 

Trên đây là một vài ý kiến giúp người chăn nuôi hiểu rõ hơn những vấn đề dẫn tới gà còi cọc chậm lớn, chúng ta sớm khắc phục hoặc có biện pháp phòng tránh ngay từ đầu sẽ đảm bảo chăn nuôi đạt hiệu quả cao hơn. Chúc các bạn chăn nuôi thành công.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Gà còi cọc chậm lớn, nguyên nhân và cách khắc phục hiệu quả

Trong chăn nuôi gà nói riêng, chăn nuôi gia cầm nói chung thì chúng ta thường xuyên gặp các loại bệnh ở gà như bệnh đậu gà, bệnh cúm gia cầm, bệnh ỉa chảy….. Ngoài các bệnh cơ bản trên thì vấn đề gà còi cọc chậm lớn cũng là điều đáng lo ngại đối với người chăn nuôi, bởi nó làm giảm hiệu quả chăn nuôi, tăng chi phí, tốn thức ăn và bệnh này cũng có thể lây lan trong đàn.

Trong một đàn gà cùng lứa tuổi, sau vài tháng chăn nuôi các bạn sẽ thấy có những con chậm lớn, xù lông, lông xơ xác, nhìn thiếu sức sống. Mới đầu chúng ta có thể nghĩ rằng những con đó bị bệnh và chúng sẽ bị nặng hơn, nhưng chúng cứ gầy như vậy và rất chậm lớn. Bệnh tưởng không nặng nhưng nếu số lượng nhiều sẽ làm giảm hiệu quả chăn nuôi và có thể lây lan trong đàn, tuy không phải ở mức độ quá nguy hiểm nhưng nó sẽ âm thầm lây bệnh trên diện rộng.


Gà còi cọc chậm lớn

Nguyên nhân nào dẫn tới gà còi cọc chậm lớn

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới gà bị còi cọc chậm lớn, như gà bị giun sán, gà mắc bệnh mãn tính, gà lười ăn, gà bị bệnh ecoli, hoặc gà bị còi cọc ngay từ khi mới nở….

Nguyên nhân giun sán: gà có nhiều giun sán trong đường ruột sẽ dẫn tới gà còi cọc chậm lớn. Khi bị giun sán thì hệ tiêu hóa sẽ làm việc kém hơn, bao nhiêu chất dinh dưỡng của thức ăn đều bị giun sán hấp thụ hết, do vậy gà không thể lớn. Để khắc phục vấn đề này, người chăn nuôi phải thường xuyên tẩy giun sán cho gia cầm định kỳ.

Nguyên nhân ấp nở: lý do tiếp theo có thể dẫn tới vấn đề này là quá trình ấp nở chưa tốt. Trong quá trình ấp trứng gà bằng máy ấp trứng hay lò ấp thủ công, nếu bị thiếu nhiệt hay quá nhiệt cũng làm gà con nở không đạt tiêu chuẩn, dẫn tới gà sẽ phát triển không bình thường trong suốt quá trình. Để khắc phục vấn đề này, các bạn điều chỉnh lại nhiệt độ ấp cho máy ấp, nếu mua con giống ở cơ sở thì cần chọn những con giống khỏe mạnh, to con, lông bông, mắt sáng, nhanh nhẹn… như vậy sẽ đảm bảo gà phát triển tốt.

Gà bị mắc bệnh mãn tính: gà bị mắc những bệnh mãn tính sẽ chậm lớn, cơ thể khó hấp thu chất dinh dưỡng dẫn tới còi cọc chậm lớn. Vấn đề này các bạn cần tìm hiểu thêm các triệu trứng khác để biết gà đang mắc bệnh gì mới có thể khắc phục triệt để.

Gà bị bệnh đã chữa khỏi: gà bị mắc bệnh sau một thời gian và được chữa khỏi, tuy nhiên thì không phải cứ khỏi bệnh là gà đã phát triển bình thường, nhiều trường hợp sau bệnh gà sẽ chậm lớn và trở nên còi cọc. Cách khắc phục tốt nhất vấn đề này là tách chúng ra nuôi riêng, nếu vẫn chậm lớn thì sớm loại bỏ.

Mật độ nuôi quá lớn: khi mật độ nuôi lớn sẽ dẫn tới gà không có không gian để chơi và phát triển bình thường, dần dần xuất hiện những con kém ăn hoặc không tranh được với những con khác. Biện pháp khắc phục là nuôi mật độ vừa phải, máng ăn nên bố trí rải rác để con nào cũng được ăn thoải mái. Như vậy gà mới phát triển bình thường. 

Trên đây là một vài ý kiến giúp người chăn nuôi hiểu rõ hơn những vấn đề dẫn tới gà còi cọc chậm lớn, chúng ta sớm khắc phục hoặc có biện pháp phòng tránh ngay từ đầu sẽ đảm bảo chăn nuôi đạt hiệu quả cao hơn. Chúc các bạn chăn nuôi thành công.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh đầu đen hay còn gọi là bệnh kén ruột, bệnh viêm gan ruột, có thể gây tỷ lệ chết cao và ảnh hưởng lớn đến năng suất chăn nuôi.

1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở niêm mạc manh tràng và gan gây nên các bệnh tích điển hình tại đây.

2. Đối tượng mắc bệnh

Bệnh xảy ra chủ yếu trên gà, gà tây nuôi chăn thả, bán chăn thả và một số loài chim, thường xảy ra ở gà trên 2 tuần tuổi đến 4 tháng tuổi. Khi môi trường ô nhiễm, gà giai đoạn sinh sản nuôi chăn thả vẫn mắc bệnh. 

3. Đường truyền bệnh

Bệnh truyền qua đường tiêu hóa, gà khỏe ăn thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, khi sức đề kháng của gà giảm, bệnh sẽ phát ra. Gà bệnh thải phân, mầm bệnh có trong trứng giun kim hoặc phân gà chứa mầm bệnh được giun đất ăn, do đó mầm bệnh tồn tại rất lâu trong môi trường vì vậy rất khó xử lý triệt để. Ở những khu vực chăn nuôi gà đã từng mắc bệnh, những lứa nuôi tiếp theo có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao.

4. Triệu chứng bệnh

Thể cấp tính: Gà sốt cao, chết nhanh trong vòng 1 - 2 ngày, chưa có triệu chứng điển hình.

Thông thường, gà mắc bệnh sẽ ủ rũ, sốt cao, rúc đầu vào cánh, đứng tụm chỗ có nắng ấm, phân sáp vàng, sáp đen, hoặc giống gạch cua... Mỏ gà dài, mắt hõm sâu, quầng mắt xanh tím và lan lên đầu (đầu gà bị đen).


Triệu chứng của bệnh

5. Bệnh tích

Bệnh tích ở gan: Đặc trưng nhất là gan sưng to và xuất hiện những vết hoại tử hơi lõm, tròn như hoa cúc, có viền trắng.

Bệnh tích ở manh tràng: Manh tràng sưng to, thành ruột tăng sinh dày, gồ ghề, chất chứa bên trong có dạng cứng chắc, màu trắng tạo khối như kén, do đó có tên gọi là bệnh kén ruột. Đôi khi kén ruột xuất hiện trên manh tràng và ruột già.


Bệnh tích của bệnh đầu đen

6. Điều trị bệnh

Hiện nay, ở những vùng chăn nuôi tập trung, bệnh đầu đen diễn biến rất phức tạp, kết hợp việc sử dụng thuốc kháng sinh liều cao nên có hiện tượng nhờn thuốc nên việc sử dụng thuốc kém hiệu quả. Chính vì vậy, để có được phác đồ điều trị hợp lý nhất cho từng vùng thì cần kiểm tra dịch tễ tại trại và kết hợp thuốc hợp lý vừa hiệu quả và kinh tế. Phác đồ tham khảo như sau

- Đối với vùng chăn nuôi ít, áp lực bệnh không cao có thể sử dụng Bộ túi trong 1 túi có các sản phẩm:
BTV - Hạ sốt

Sáng dùng kết hợp BTV - Sulfuamox và hạ sốt, chiều dùng BTV - Bổ gan kết hợp BTV - Men Saccharo (Tan). Liệu trình điều trị 3-5 ngày

- Đối với những vùng chăn nuôi tập trung, áp lực bệnh cao:
BTV – Dimetone 1g/10kg TT
BTV - Parace 1g/5-7kg TT
BTV - Bogama 1ml/1l nước
BTV - Men LacVet (Tan) 1g/1l nước

Sáng dùng kết hợp BTV – Dimetone và BTV - Parace, chiều dùng kết hợp Giải độc BTV - BogamaBTV - Men LacVet (Tan). Liệu trình 5 ngày.

Sau quá trình điều trị nên tẩy giun để làm sạch mầm bệnh cho gà.

Trong quá trình điều trị việc xử lý môi trường là vấn đề tiên quyết trong loại trừ được mầm bệnh đầu đen trong khu vực chuồng nuôi.

7. phòng bệnh

Thực hiện tốt vệ sinh phòng bệnh: Đảm bảo thời gian trống chuồng sau mỗi lứa gà, không nuôi chung gà tây với các giống gà khác, không nuôi gà nhiều lứa tuổi trong cùng một khu vực. Định kỳ vệ sinh, phun khử trùng chuồng nuôi, sân chơi, vườn thả gà, rắc vôi bột ở khu vực nuôi để diệt mầm bệnh. Hạn chế thả gà ra vườn khi trời mới mưa. Định kỳ tẩy giun cho gà và dọn sạch phân sau khi tẩy.

Ở những vùng đã có bệnh, khi gà trên 20 ngày tuổi, có thể cho uống dung dịch: 1g thuốc tím hoặc 2g sulfat đồng pha với 10 lít nước cho gà uống trong 1-2 giờ, nếu thừa phải đổ bỏ, cứ 20 ngày cho gà uống một lần.

Đối với những chuồng nuôi, bãi chăn thả gà mắc bệnh đầu đen, cần trống chuồng ít nhất 30 ngày, trước khi trống chuồng, cần vệ sinh chuồng nuôi và bãi chăn thả sạch sẽ, thu gom chất thải ủ sinh học hoặc đốt. Trong thời gian trống chuồng, định kỳ 1 lần/tuần phun khử trùng chuồng nuôi, bãi chăn thả và môi trường xung quanh; cuốc đất rắc vôi, diệt giun đất.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Bệnh đầu đen trên gà và biện pháp phòng trị

Bệnh đầu đen hay còn gọi là bệnh kén ruột, bệnh viêm gan ruột, có thể gây tỷ lệ chết cao và ảnh hưởng lớn đến năng suất chăn nuôi.

1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở niêm mạc manh tràng và gan gây nên các bệnh tích điển hình tại đây.

2. Đối tượng mắc bệnh

Bệnh xảy ra chủ yếu trên gà, gà tây nuôi chăn thả, bán chăn thả và một số loài chim, thường xảy ra ở gà trên 2 tuần tuổi đến 4 tháng tuổi. Khi môi trường ô nhiễm, gà giai đoạn sinh sản nuôi chăn thả vẫn mắc bệnh. 

3. Đường truyền bệnh

Bệnh truyền qua đường tiêu hóa, gà khỏe ăn thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, khi sức đề kháng của gà giảm, bệnh sẽ phát ra. Gà bệnh thải phân, mầm bệnh có trong trứng giun kim hoặc phân gà chứa mầm bệnh được giun đất ăn, do đó mầm bệnh tồn tại rất lâu trong môi trường vì vậy rất khó xử lý triệt để. Ở những khu vực chăn nuôi gà đã từng mắc bệnh, những lứa nuôi tiếp theo có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao.

4. Triệu chứng bệnh

Thể cấp tính: Gà sốt cao, chết nhanh trong vòng 1 - 2 ngày, chưa có triệu chứng điển hình.

Thông thường, gà mắc bệnh sẽ ủ rũ, sốt cao, rúc đầu vào cánh, đứng tụm chỗ có nắng ấm, phân sáp vàng, sáp đen, hoặc giống gạch cua... Mỏ gà dài, mắt hõm sâu, quầng mắt xanh tím và lan lên đầu (đầu gà bị đen).


Triệu chứng của bệnh

5. Bệnh tích

Bệnh tích ở gan: Đặc trưng nhất là gan sưng to và xuất hiện những vết hoại tử hơi lõm, tròn như hoa cúc, có viền trắng.

Bệnh tích ở manh tràng: Manh tràng sưng to, thành ruột tăng sinh dày, gồ ghề, chất chứa bên trong có dạng cứng chắc, màu trắng tạo khối như kén, do đó có tên gọi là bệnh kén ruột. Đôi khi kén ruột xuất hiện trên manh tràng và ruột già.


Bệnh tích của bệnh đầu đen

6. Điều trị bệnh

Hiện nay, ở những vùng chăn nuôi tập trung, bệnh đầu đen diễn biến rất phức tạp, kết hợp việc sử dụng thuốc kháng sinh liều cao nên có hiện tượng nhờn thuốc nên việc sử dụng thuốc kém hiệu quả. Chính vì vậy, để có được phác đồ điều trị hợp lý nhất cho từng vùng thì cần kiểm tra dịch tễ tại trại và kết hợp thuốc hợp lý vừa hiệu quả và kinh tế. Phác đồ tham khảo như sau

- Đối với vùng chăn nuôi ít, áp lực bệnh không cao có thể sử dụng Bộ túi trong 1 túi có các sản phẩm:
BTV - Hạ sốt

Sáng dùng kết hợp BTV - Sulfuamox và hạ sốt, chiều dùng BTV - Bổ gan kết hợp BTV - Men Saccharo (Tan). Liệu trình điều trị 3-5 ngày

- Đối với những vùng chăn nuôi tập trung, áp lực bệnh cao:
BTV – Dimetone 1g/10kg TT
BTV - Parace 1g/5-7kg TT
BTV - Bogama 1ml/1l nước
BTV - Men LacVet (Tan) 1g/1l nước

Sáng dùng kết hợp BTV – Dimetone và BTV - Parace, chiều dùng kết hợp Giải độc BTV - BogamaBTV - Men LacVet (Tan). Liệu trình 5 ngày.

Sau quá trình điều trị nên tẩy giun để làm sạch mầm bệnh cho gà.

Trong quá trình điều trị việc xử lý môi trường là vấn đề tiên quyết trong loại trừ được mầm bệnh đầu đen trong khu vực chuồng nuôi.

7. phòng bệnh

Thực hiện tốt vệ sinh phòng bệnh: Đảm bảo thời gian trống chuồng sau mỗi lứa gà, không nuôi chung gà tây với các giống gà khác, không nuôi gà nhiều lứa tuổi trong cùng một khu vực. Định kỳ vệ sinh, phun khử trùng chuồng nuôi, sân chơi, vườn thả gà, rắc vôi bột ở khu vực nuôi để diệt mầm bệnh. Hạn chế thả gà ra vườn khi trời mới mưa. Định kỳ tẩy giun cho gà và dọn sạch phân sau khi tẩy.

Ở những vùng đã có bệnh, khi gà trên 20 ngày tuổi, có thể cho uống dung dịch: 1g thuốc tím hoặc 2g sulfat đồng pha với 10 lít nước cho gà uống trong 1-2 giờ, nếu thừa phải đổ bỏ, cứ 20 ngày cho gà uống một lần.

Đối với những chuồng nuôi, bãi chăn thả gà mắc bệnh đầu đen, cần trống chuồng ít nhất 30 ngày, trước khi trống chuồng, cần vệ sinh chuồng nuôi và bãi chăn thả sạch sẽ, thu gom chất thải ủ sinh học hoặc đốt. Trong thời gian trống chuồng, định kỳ 1 lần/tuần phun khử trùng chuồng nuôi, bãi chăn thả và môi trường xung quanh; cuốc đất rắc vôi, diệt giun đất.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm